Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh lí Người - ĐV

NHỮNG CÁI "NHẤT" ĐẦY NGẠC NHIÊN VÀ THÚ VỊ VỀ CƠ THỂ CON NGƯỜI

NHỮNG CÁI “NHẤT” ĐẦY THÚ VỊ VÀ NGẠC NHIÊN VỀ CƠ THỂ NGƯỜI
1/ Tóc:

Tóc là loại tế bào duy nhất của cơ thể không bị ung thư. Các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng hầu hết tất cả các loại mô, tế bào (ngoại trừ tóc) đều có khả năng mắc ung thư từ cao đến thấp, kể cả tế bào thực vật (như đạo ôn ở lúa).
2/ Xương bàn đạp:
Xương bàn đạp (nằm trong lỗ tai) là xương nhỏ nhất trong cơ thể con người. Hình dáng xương giống như một bàn đạp, dài trung bình 3cm, nặng khoảng 3g.
3/ Gan:
Gan là cơ quan nặng nhất trong những cơ quan ở người. Gan có mật độ chắc, nặng khoảng 1 - 2 kg. Đồng thời, tế bào gan cũng là tế bào duy nhất có khả năng tự tái sinh. Nếu bạn cắt đi một nửa lá gan thì một nửa còn lại dần dần sẽ tái tạo phân nửa lá gan mà bạn đã cắt.
4/ Nước mắt:
Các nhà khoa học đã kết luận rằng nước mắt là loại “thuốc nhỏ mắt” tốt nhất đối với đôi mắt của bạn, từ độ pH, chất dinh dưỡng đến khả năng diệt khuẩn thì nước mắt vượt trội hơn so với tất cả những loại thuốc nhỏ mắt có bán trên thị t…

10 điều thú vị về cơ thể người

NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ VỀ CƠ THỂ CON NGƯỜI


1/ Lượng sắt trong cơ thể người khoảng 2,5 - 3,5 gram, tương đương với một cây đinh nhỏ.
2/ Lượng nước trong cơ thể một người trưởng thành trung bình khoảng 30 – 40 lít, gần bằng 1 thau nước.
3/ Bộ não của bạn, khi nó không ngủ, có thể sản xuất đủ năng lượng điện để thắp sáng cho một bóng đèn.
4/ Xương người có thể được coi là cứng hơn thép.
5/ Gan là tạng nặng nhất trong cơ thể người, trung bình 1 - 2 kg.
6/ Mỗi nụ hôn của con người sẽ trao đổi khoảng 270 triệu vi khuẩn các loại.
7/ Con người có thể nhịn đói tới hai tháng liền.
8/ Diện tích bề mặt của phổi người bằng một sân tennis.
9/ Mũi và tai của bạn sẽ tiếp tục phát triển trong suốt cuộc đời. Đây là lý do tại sao những người lớn tuổi thường có mũi và tai lớn hơn.
10/ Tế bào gan là một loại tế bào đặc biệt, nó có thể tự phục hồi. Bạn có thể loại bỏ tới 70% lá gan và nó sẽ hoàn toàn hồi phục.

Những điều thú vị về cơ thể người

Vận tốc hắt hơn lên tới 100 dặm/giờ, mỗi người sản sinh một hồ bơi nước bọt, mạch máu dài tới 60.000 dặm … đó là một trong những bí mật của cơ thể mà không phải ai cũng biết.

Sự hình thành tiếng nói ở người

Hiện nay các nhà nghiên cứu cho rằng sự hình thành tiếng nói ở người trong quá trình phát triển cá thể giống như sự hình thành các phản xạ có điều kiện. Tiếng nói không phải là bẩm sinh, tiếng nói có được là do trẻ tiếp xúc và học tập được ở người lớn. Chứng minh cho nhận định này là các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi hay bị lạc trong rừng được chó sói nuôi dưỡng hoàn toàn không biết nói và không hiểu gì về xã hội loài người.

 Các phản xạ hình thành tiếng nói bắt đầu xuất hiện ở trẻ em vào những tháng cuối của năm đầu tiên sau khi sinh. Trong thời gian này nhờ tiếp xúc với người lớn mà trẻ em nhận được phức hợp tiếng nói với một kích thích cụ thể nào đó hay một phức hợp nhiều kích thích cụ thể.

Đặc điểm tác dụng sinh lý của tiếng nói

- Tiếng nói cũng là một kích thích.
  Các nhà sinh lý học cho rằng tiếng nói cũng là một kích thích. Tiếng nói được vỏ não tiếp nhận bằng cách thông qua hoạt động của các cơ quan phân tích, trong đó có cơ quan phân tích thính giác, thị giác, xúc giác. Khi nói và viết lại cần có sự tham gia của cơ quan phân tích vận động. Như vậy, tiếng nói là một kích thích, một tín hiệu, nhưng không đơn giản như các tín hiệu tự nhiên như ánh sáng, âm thanh, cơ học...
 - Tiếng nói tác dụng bằng nội dung và ý nghĩa của nó.    Đặc điểm này có thể thấy rõ qua thí nghiệm thành lập phản xạ chớp mắt có điều kiện với tiếng “tốt” và củng cố nó bằng cách cho luồng không khí thổi vào mắt ở một học sinh lớp bốn, khoảng 10-11 tuổi. Sau khi phối hợp nhiều lần giữa tiếng “tốt” với luồng không khí thổi vào mắt, ở em học sinh sẽ xuất hiện chớp mắt có điều kiện khi ta nói “tốt”. Tiếp theo, ta dùng câu nói mang ý nghĩa tốt thay cho tiếng “tốt”, ở em học sinh cũng xuất hiện phản xạ chớp mắt. Điều này chứng tỏ tiếng n…

Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao ở người

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu của mình, I.P.Pavlov đã nhận định rằng các quy luật hoạt động phản xạ có điều kiện ở động vật cũng là các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao ở người. Tuy nhiên, do ở người có tín hiệu thứ hai nên những biểu hiện của quy luật chung đó trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người và động vật có sự khác nhau.
  Đặc điểm đặc trưng trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người là sự có mặt hai hệ thống tín hiệu và sự tác động qua lại giữa chúng. Chính nhờ có sự khác biệt này, thông qua hoạt động thần kinh cấp cao đã tách con người ra khỏi động vật và đặt con người vào vị trí cao hơn mọi động vật. 
Hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người  Hoạt động thần kinh cấp cao của người so với động vật có sự khác nhau về mức độ phát triển của quá trình phân tích và tổng hợp. Điều đó không chỉ do sự phát triển và hoàn thiện liên tục trong quá trình tiến hoá các cơ chế hoạt động vỏ não có ở tất cả các loài động vật bậc …

Ức chế có điều kiện

Ức chế có điều kiện là ức chế được hình thành trong trong quá trình phát triển cá thể, cần phải luyện tập mới có được. Ức chế trực tiếp phát sinh trong cung phản xạ có điều kiện cho nên gọi là ức chế có điều kiện hay ức chế trong.
 Phụ thuộc vào các điều kiện phát sinh có thể phân ức chế có điều kiện thành các dạng sau đây: ức chế dập tắt, ức chế phân biệt, ức chế có điều kiện, ức chế trì hoãn.
1). Ức chế dập tắt   Ức chế dập tắt là dạng ức chế xuất hiện khi tín hiệu có điều kiện không được củng cố bằng kích thích có diều kiện. Ví dụ, nếu phát tín hiệu có điều kiện lên chó đã được thành lập phản xạ tiết nước bọt có điều kiện bền vững nhiều lần mà không củng cố, nghĩa là không cho chó ăn thì mỗi lần phát tín hiệu sẽ làm cho chó tiết nước bọt ít hơn, thời gian tiềm tàng của phản ứng tiết nước bọt tăng dần và cuối cùng phản ứng tiết nước bọt mất hẳn.  Sự vắng mặt tác nhân củng cố sớm hay muộn nhất định sẽ dẫn đến tình trạng là tín hiệu có điều kiện không còn có ảnh hưởng đến hoạt độn…

Sự hình thành tiếng nói ở người

Hiện nay các nhà nghiên cứu cho rằng sự hình thành tiếng nói ở người trong quá trình phát triển cá thể giống như sự hình thành các phản xạ có điều kiện. Tiếng nói không phải là bẩm sinh, tiếng nói có được là do trẻ tiếp xúc và học tập được ở người lớn. Chứng minh cho nhận định này là các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi hay bị lạc trong rừng được chó sói nuôi dưỡng hoàn toàn không biết nói và không hiểu gì về xã hội loài người. Các phản xạ hình thành tiếng nói bắt đầu xuất hiện ở trẻ em vào những tháng cuối của năm đầu tiên sau khi sinh. Trong thời gian này nhờ tiếp xúc với người lớn mà trẻ em nhận được phức hợp tiếng nói với một kích thích cụ thể nào đó hay một phức hợp nhiều kích thích cụ thể. Ví dụ, người lớn bảo em bé “ông

Quá trình ức chế không điều kiện

Trong vỏ não song song với hưng phấn có quá trình ức chế. Hai quá trình này có thể chuyển đổi nhau, là hai mặt của quá trình hoạt động của vỏ não, thống nhất với nhau. Hưng phấn đưa đến sự thành lập và xuất hiện phản xạ có điều kiện còn ức chế có tác dụng làm giảm cường độ hoặc đình chỉ phản xạ có điều kiện, bảo vệ các tế bào thần kinh của vỏ não và phục hồi năng lượng cho vỏ não.  Dựa vào điều kiện phát sinh ức chế trong vỏ não, quá trình ức chế trong vỏ não được chia thành hai loại: ức chế không điều kiện và ức chế có điều kiện.   Ức chế không điều kiện  Là loại ức chế có từ khi động vật sinh ra, không cần phải luyện tập. Ức chế không điều kiện thể hiện ở hai dạng: ức chế ngoài và ức chế trên giới hạn. 

Cơ chế hình thành đường liên hệ tạm thời

Theo quan điểm của I.P.Pavlov thì sự hình thành đường liên hệ tạm thời là kết quả của sự tác dụng tương hỗ giữa hai vùng vỏ não hưng phấn đồng thời: trung khu tiếp nhận kích thích có điều kiện và trung khu tiếp nhận kích thích không điều kiện, trong đó trung khu không điều kiện hưng phấn mạnh hơn trung khu có điều kiện. 
  Theo nguyên tắc ưu thế Ukhtomski thì trung khu hưng phấn mạnh hơn có khả năng lôi cuốn hưng phấn từ trung khu hưng phấn yếu hơn về phía nó. Sự dẫn truyền hưng phấn từ trung khu có điều kiện đến trung khu không điều kiện đã tạo ra con đường thần kinh tạm thời giữa hai trung khu này.

Vị trí hình thành đường liên hệ tạm thời

Sự hình thành phản xạ có điều kiện thực chất là hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời.   Những công trình nghiên cứu về sinh lý so sánh hoạt động thần kinh cấp cao cho thấy các phản xạ có điều kiện đơn giản được hình thành ở tất cả các động vật có hệ thần kinh. Ở cá, lưỡng cư là những động vật chưa có vỏ não, nhưng cũng có thể thành lập được các phản xạ có điều kiện. Ở chim vỏ não mới kém phát triển, nhưng hoạt động phản xạ có điều kiện ở chúng đạt mức rất cao. Như vậy, ở các động vật chưa có vỏ não hoặc vỏ não kém phát triển vẫn có thể hình thành được các phản xạ có điều kiện.
  Ở trẻ em mới sinh, trong vài ba tuần đầu, khi vỏ não chưa hoạt động vẫn hình thành được phản xạ có điều kiện. Ở trẻ em sẽ xuất hiện động tác mút nếu trong nhiều ngày trước đó mỗi khi người mẹ sắp cho con bú ta cho tác động một tín hiệu nào đó như ánh sáng chẳng hạn.

Các điều kiện thành lập phản xạ có điều kiện

Để thành lập phản xạ có điều kiện cần bảo đảm các điều kiện sau đây: 
 - Phải có sự phối hợp đúng lúc kích thích tín hiệu với kích thích củng cố. Kích thích tín hiệu phải bắt đầu trước kích thích củng cố. Nếu kích thích tín hiệu được bắt đầu đồng thời hoặc chậm hơn kích thích củng cố thì nó sẽ mất ý nghĩa tín hiệu và không gây ra được phản xạ có điều kiện.   
  - Kích thích tín hiệu phải là một kích thích vô quan, nghĩa là không có quan hệ gì với phản xạ không điều kiện được phối hợp, đồng thời kích thích đó cũng không được quá mạnh, quá mới lạ.
 - Cường độ của kích thích tín hiệu phải yếu hơn cường độ của kích thích củng cố, nghĩa là phải bảo đảm sự hưng phấn do kích thích tín hiệu gây ra yếu hơn sự hưng phấn do kích thích củng cố gây ra.
 - Vỏ não phải toàn vẹn, hệ thần kinh con vật phải ở trạng thái hoạt  động bình thường. Nếu khả năng hoạt động của não bộ giảm sút rất khó thành lập phản xạ có điều kiện.

Phân biệt phản xạ không điều kiện và có điều kiện

Phân biệt phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện
Phản xạ từ tiếng La tinh (reflexio) có nghĩa là phản ánh. Hiện nay có thể hiểu phản xạ là sự phản ứng của cơ thể đối với sự kích thích vào các thụ cảm thể và được thực hiện với sự tham gia của hệ thần kinh trung ương, bảo đảm cho cơ thể thích ứng với môi trường sống. Mỗi phản xạ hầu như luôn luôn là phức hợp của các phản xạ không điều kiện và có điều kiện. Hai loại phản xạ này thống nhất với nhau thành một hoạt động phức tạp. Tuy nhiên, theo sự phát sinh của chúng thì hai loại phản xạ này hoàn toàn khác biệt nhau.
 Các phản xạ không điều kiện là phản xạ bẩm sinh, được di truyền, mang tính chất của loài, tương đối ổn định trong suốt đời sống của cá thể, là phản xạ phát sinh khi có kích thích thích ứng tác động lên các trường thụ cảm nhất định.  Các phản xạ có điều kiện là các phản xạ tập nhiễm được trong đời sống của cá thể, mang tính chất của cá thể, có thể bị mất đi khi điều kiện tạo ra nó không còn nữa, là phản xạ có thể được h…

Phương pháp nghiên cứu phản xạ có điều kiện của I.P.Pavlov

Các phản xạ có điều kiện bài tiết nước bọt được I.P.Pavlov và cộng sự nghiên cứu đầu tiên trên chó vào những năm  đầu của thế kỷ XX. Phương pháp này  được coi là phương pháp kinh điển, có thể sử dụng để nghiên cứu hoạt động thần kinh cấp cao trên nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau. Sở dĩ như vậy là vì chó là loài động vật khoẻ mạnh, dẻo dai, đã được thuần hoá lâu đời, là người bạn đồng hành của con người từ thời tiền sử, biết nghe người. Chó cũng có bán cầu đại não phát triển. Các phản xạ bài tiết nước bọt dễ thành lập, không gây tổn hại đến động vật. Lượng nước bọt tiết ra dễ thu nhận, cường độ của phản xạ cũng dễ dàng xác định chính xác bằng giọt hoặc bằng độ chia của ống thu nước bọt.    
Để nghiên cứu phản xạ có điều kiện theo phương pháp bài tiết nước bọt, con vật cần được chuẩn bị trước để có thể quan sát được quá trình tiết nước bọt. Muốn vậy, cần phải phẩu thuật tách ống dẫn nước bọt cùng với mảnh màng nhầy xung quanh miệng ống rồi đưa ra ngoài xoang miệng, khâu vào da ở v…

Khái niệm về hoạt động thần kinh cấp cao

Một em bé mới sinh có thể kêu khóc khi nhìn thấy chiếc thìa con mà người ta dùng để cho nó uống thuốc đắng trong những lần trước và cũng có khả năng nhận biết được người mẹ của mình. Ở động vật cũng vậy, chúng ta có thể nhận thấy khả năng nhận biết được tiếng nói của người chủ với tiếng nói của người lạ ở chó nuôi, sự mừng rỡ của nó khi chủ về. Người ta gọi những khả năng như vậy là hoạt động thần kinh cấp cao của người và động vật. 
 Hoạt động thần kinh cấp cao là hoạt động của hệ thần kinh trung ương nhằm điều hoà, phối hợp các chức năng của các cơ quan trong cơ thể, đồng thời bảo đảm cho cơ thể thích ứng được với những điều kiện của môi trường sống luôn luôn biến động hay bảo đảm được mối quan hệ phức tạp giữa cơ thể với thế giới bên ngoài. 
 Bên cạnh đó, hệ thần kinh trung ương còn có chức năng điều hoà và phối hợp chức năng của tất cả các cơ quan trong cơ thể thành một khối thống nhất. Hoạt động đó của hệ thần kinh trung ương được gọi là hoạt động thần kinh cấp thấp.

Cấu tạo và chức năng hệ thần kinh tự động (thần kinh thực vật)

Về mặt chức năng, hệ thần kinh có thể chia làm 2 phần:

- Hệ thần kinh động vật: thực hiện chức năng cảm giác và vận động.
- Hệ thần kinh thực vật: thực hiện chức năng điều hòa hoạt động của tất cả các cơ quan nội tạng, mạch máu, tuyến mồ hôi... cũng như sự dinh dưỡng của toàn bộ các cơ quan trong cơ thể kể cả hệ thần kinh, các chức năng này được thực hiện một cách tự động. Vì vậy, hệ thần kinh thực vật còn được gọi là hệ thần kinh tự động. Tuy nhiên, khái niệm tự động không hoàn toàn tuyệt đối vì hệ thần kinh thực vật còn chịu sự chi phối của vỏ não. Trong thực tế, vỏ não có thể điều khiển một số chức năng của hệ thần kinh tự động.

Hiện tượng điện trong vỏ bán cầu đại não và các loại sóng não

Các tế bào thần kinh trong vỏ não các bán cầu đại não cũng như các tế bào trong các cấu trúc khác của hệ thần kinh trung ương có khả năng phát điện khi chúng bị kích thích hoặc có các xung động từ các tế bào thần kinh khác truyền đến. Trong vỏ não có rất nhiều synapse, ở đây cũng phát sinh điện thế hưng phấn và ức chế sau synapse. Sự tổng cộng các điện thế tế bào và điện thế synapse sẽ tạo ra điện thế tổng hợp được biểu diễn bằng các dao động điện thế. Nếu ta đặt lên bề mặt vỏ não hay da đầu hai điện cực và nối chúng với máy ghi điện não ta có thể ghi các dao động điện. Ðường ghi các dao động điện từ vỏ não được gọi là điện não đồ (electroencephalogram), đúng hơn là điện vỏ não đồ.
- Các chuyển đạo của điện não đồ Muốn ghi dòng điện não, ta nối 2 điện cực đặt ở 2 điểm nào đó với cần ghi của máy. Mỗi đường ghi được gọi là một chuyển đạo. Các điện cực có thể đặt trên da đầu, xương sọ, màng não hoặc trong tổ chức của não. Nhưng thông thường nhất là đặt trên da đầu.
Có 2 loại chuyển đạ…

Cấu tạo và chức năng bán cầu đại não

1. Ðặc điểm cấu tạo
Ðại não gồm 2 bán cầu đại não phải và trái, ngăn cách nhau bởi rãnh gian bán cầu. Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày 2-4 mm bao xung quanh gọi là vỏ não. Gồm: thùy trán, thùy chẩm, thùy đỉnh, thùy thái dương.
2. Chức năng của vỏ não Vỏ não là trung tâm của nhiều chức năng thần kinh quan trọng: Chức năng vận động.Chức năng cảm giác.Chức năng giác quan.Chức năng thực vật. Mỗi vùng của vỏ não ứng với một chức năng nhất định. Ngoài ra, vỏ não còn là trung tâm của các hoạt động thần kinh cao cấp như: tư duy, tình cảm...

Thành phần và sự lưu thông dịch não tủy

Dịch não tủy là một loại dịch ngoại bào đặc biệt lưu thông trong các não thất và trong khoang dưới nhện do các đám rối màng mạch trong các não thất bài tiết. Số lượng dịch não tủy ở người trưởng thành khoảng 140ml và trong 24 giờ dịch não tủy được đổi mới từ 3 đến 4 lần.
1. Sự lưu thông của dịch não tủy Từ 2 não thất bên ở 2 bán cầu đại não, dịch não tủy theo lỗ Monro đổ vào não thất III nằm ở gian não. Từ não thất III, dịch não tủy theo cống Sylvius đổ vào não thất IV nằm ở hành- cầu não. Từ  đây, dịch não tủy theo các lỗ Magendie và Luschka  đi vào khoang dưới nhện rồi bao bọc xunh quanh não bộ và tủy sống. Sau đó, dịch não tủy được các mao mạch hấp thu trở lại để đi vào tuần hoàn chung. Khi các đường lưu thông này bị tắc, dịch não tủy sẽ ứ đọng lại trong các não thất gây nên bệnh não úng thủy (hydrocephalus).
2. Chức năng của dịch não tủy
- Chức năng dinh dưỡng và đào thải Dịch não tủy trao đổi vật chất 2 chiều với tổ chức thần kinh trung ương bằng cách cung cấp các chất dinh d…

Cấu tạo và chức năng vùng dưới đồi

1. Ðặc điểm cấu tạo Vùng dưới đồi là một tập hợp nhiều nhân xám (khoảng 40 nhân) nằm ngay dưới đồi thị và xung quanh não thất III. Kích thước khoảng 1 cm3. Các nơron cấu tạo vùng dưới đồi chia làm hai loại: Nơron có chức năng dẫn truyền, Nơron có chức năng bài tiết hormon.
Các nhân xám của vùng dưới đồi có thể chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm có một số nhân chính sau  đây:- Nhóm trước: Nhân cạnh não thất, Nhân trên thị, Nhân tréo thị- Nhóm giữa: Nhân bụng giữa, Nhân lưng giữa, Nhân phễu- Nhóm sau: Nhân trước vú, Nhân sau vú, Nhân củ vú