NHỮNG CÁI "NHẤT" ĐẦY NGẠC NHIÊN VÀ THÚ VỊ VỀ CƠ THỂ CON NGƯỜI



NHỮNG CÁI “NHẤT” ĐẦY THÚ VỊ VÀ NGẠC NHIÊN VỀ CƠ THỂ NGƯỜI

1/ Tóc:


Tóc là loại tế bào duy nhất của cơ thể không bị ung thư. Các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng hầu hết tất cả các loại mô, tế bào (ngoại trừ tóc) đều có khả năng mắc ung thư từ cao đến thấp, kể cả tế bào thực vật (như đạo ôn ở lúa).

2/ Xương bàn đạp:

Xương bàn đạp (nằm trong lỗ tai) là xương nhỏ nhất trong cơ thể con người. Hình dáng xương giống như một bàn đạp, dài trung bình 3cm, nặng khoảng 3g.

3/ Gan:

Gan là cơ quan nặng nhất trong những cơ quan ở người. Gan có mật độ chắc, nặng khoảng 1 - 2 kg. Đồng thời, tế bào gan cũng là tế bào duy nhất có khả năng tự tái sinh. Nếu bạn cắt đi một nửa lá gan thì một nửa còn lại dần dần sẽ tái tạo phân nửa lá gan mà bạn đã cắt.

4/ Nước mắt:

Các nhà khoa học đã kết luận rằng nước mắt là loại “thuốc nhỏ mắt” tốt nhất đối với đôi mắt của bạn, từ độ pH, chất dinh dưỡng đến khả năng diệt khuẩn thì nước mắt vượt trội hơn so với tất cả những loại thuốc nhỏ mắt có bán trên thị trường.

5/ Sữa mẹ:

Sữa mẹ là loại sữa duy nhất vừa thích hợp với hệ tiêu hóa của trẻ, vừa chứa hàm lượng vitamin A cao nhất và nồng độ kháng thể IgG lớn nhất so với tất cả những loại sữa trên thị trường.

6/ Tuyến giáp: 

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể người. Nó nặng khoảng 30 - 35 g, cao 6 cm, rộng 3 cm, dày 2 cm.

7/ Tim:

Tim là cơ quan đặc biệt nhất trong cơ thể người vì nó vẫn duy trì nhịp đập khi bị cắt hết thần kinh chi phối.

10 điều thú vị về cơ thể người



NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ VỀ CƠ THỂ CON NGƯỜI



1/ Lượng sắt trong cơ thể người khoảng 2,5 - 3,5 gram, tương đương với một cây đinh nhỏ.

2/ Lượng nước trong cơ thể một người trưởng thành trung bình khoảng 30 – 40 lít, gần bằng 1 thau nước.

3/ Bộ não của bạn, khi nó không ngủ, có thể sản xuất đủ năng lượng điện để thắp sáng cho một bóng đèn.

4/ Xương người có thể được coi là cứng hơn thép.

5/ Gan là tạng nặng nhất trong cơ thể người, trung bình 1 - 2 kg.

6/ Mỗi nụ hôn của con người sẽ trao đổi khoảng 270 triệu vi khuẩn các loại.

7/ Con người có thể nhịn đói tới hai tháng liền.

8/ Diện tích bề mặt của phổi người bằng một sân tennis.

9/ Mũi và tai của bạn sẽ tiếp tục phát triển trong suốt cuộc đời. Đây là lý do tại sao những người lớn tuổi thường có mũi và tai lớn hơn.

10/ Tế bào gan là một loại tế bào đặc biệt, nó có thể tự phục hồi. Bạn có thể loại bỏ tới 70% lá gan và nó sẽ hoàn toàn hồi phục.

Những điều thú vị về cơ thể người


Vận tốc hắt hơn lên tới 100 dặm/giờ, mỗi người sản sinh một hồ bơi nước bọt, mạch máu dài tới 60.000 dặm … đó là một trong những bí mật của cơ thể mà không phải ai cũng biết.
Những điều thú vị về cơ thể người

Sự hình thành tiếng nói ở người

Dạy trẻ tập nói
 Hiện nay các nhà nghiên cứu cho rằng sự hình thành tiếng nói ở người trong quá trình phát triển cá thể giống như sự hình thành các phản xạ có điều kiện. Tiếng nói không phải là bẩm sinh, tiếng nói có được là do trẻ tiếp xúc và học tập được ở người lớn. Chứng minh cho nhận định này là các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi hay bị lạc trong rừng được chó sói nuôi dưỡng hoàn toàn không biết nói và không hiểu gì về xã hội loài người.

 Các phản xạ hình thành tiếng nói bắt đầu xuất hiện ở trẻ em vào những tháng cuối của năm đầu tiên sau khi sinh. Trong thời gian này nhờ tiếp xúc với người lớn mà trẻ em nhận được phức hợp tiếng nói với một kích thích cụ thể nào đó hay một phức hợp nhiều kích thích cụ thể.

Đặc điểm tác dụng sinh lý của tiếng nói

 - Tiếng nói cũng là một kích thích.
  Các nhà sinh lý học cho rằng tiếng nói cũng là một kích thích. Tiếng nói được vỏ não tiếp nhận bằng cách thông qua hoạt động của các cơ quan phân tích, trong đó có cơ quan phân tích thính giác, thị giác, xúc giác. Khi nói và viết lại cần có sự tham gia của cơ quan phân tích vận động. Như vậy, tiếng nói là một kích thích, một tín hiệu, nhưng không đơn giản như các tín hiệu tự nhiên như ánh sáng, âm thanh, cơ học...

Đặc điểm sinh lí của tiếng nói

 - Tiếng nói tác dụng bằng nội dung và ý nghĩa của nó. 
  Đặc điểm này có thể thấy rõ qua thí nghiệm thành lập phản xạ chớp mắt có điều kiện với tiếng “tốt” và củng cố nó bằng cách cho luồng không khí thổi vào mắt ở một học sinh lớp bốn, khoảng 10-11 tuổi. Sau khi phối hợp nhiều lần giữa tiếng “tốt” với luồng không khí thổi vào mắt, ở em học sinh sẽ xuất hiện chớp mắt có điều kiện khi ta nói “tốt”.
Tiếp theo, ta dùng câu nói mang ý nghĩa tốt thay cho tiếng “tốt”, ở em học sinh cũng xuất hiện phản xạ chớp mắt. Điều này chứng tỏ tiếng nói không tác dụng bằng âm thanh mà bằng nội dung của nó.

Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao ở người


             Trên cơ sở các công trình nghiên cứu của mình, I.P.Pavlov đã nhận định rằng các quy luật hoạt động phản xạ có điều kiện ở động vật cũng là các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao ở người. Tuy nhiên, do ở người có tín hiệu thứ hai nên những biểu hiện của quy luật chung đó trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người và động vật có sự khác nhau.

Tư duy
  Đặc điểm đặc trưng trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người là sự có mặt hai hệ thống tín hiệu và sự tác động qua lại giữa chúng. Chính nhờ có sự khác biệt này, thông qua hoạt động thần kinh cấp cao đã tách con người ra khỏi động vật và đặt con người vào vị trí cao hơn mọi động vật. 

 Hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người
 Hoạt động thần kinh cấp cao của người so với động vật có sự khác nhau về mức độ phát triển của quá trình phân tích và tổng hợp. Điều đó không chỉ do sự phát triển và hoàn thiện liên tục trong quá trình tiến hoá các cơ chế hoạt động vỏ não có ở tất cả các loài động vật bậc cao, mà còn do sự xuất hiện trong quá trình phát triển lịch sử của loài người cơ chế mới của hoạt  động  đó. Cơ chế này  được hình thành trong quá trình lao động, đó là tiếng nói - phương tiện giao tiếp giữa người với nhau.  

Ức chế có điều kiện


  Ức chế có điều kiện là ức chế được hình thành trong trong quá trình phát triển cá thể, cần phải luyện tập mới có được. Ức chế trực tiếp phát sinh trong cung phản xạ có điều kiện cho nên gọi là ức chế có điều kiện hay ức chế trong.

 Phụ thuộc vào các điều kiện phát sinh có thể phân ức chế có điều kiện thành các dạng sau đây: ức chế dập tắt, ức chế phân biệt, ức chế có điều kiện, ức chế trì hoãn.

ức chế
1). Ức chế dập tắt
  Ức chế dập tắt là dạng ức chế xuất hiện khi tín hiệu có điều kiện không được củng cố bằng kích thích có diều kiện. Ví dụ, nếu phát tín hiệu có điều kiện lên chó đã được thành lập phản xạ tiết nước bọt có điều kiện bền vững nhiều lần mà không củng cố, nghĩa là không cho chó ăn thì mỗi lần phát tín hiệu sẽ làm cho chó tiết nước bọt ít hơn, thời gian tiềm tàng của phản ứng tiết nước bọt tăng dần và cuối cùng phản ứng tiết nước bọt mất hẳn.  Sự vắng mặt tác nhân củng cố sớm hay muộn nhất định sẽ dẫn đến tình trạng là tín hiệu có điều kiện không còn có ảnh hưởng đến hoạt động tiết nước bọt nữa, nghĩa là phản xạ có điều kiện bị dập tắt. Tuy nhiên, ức chế không làm huỷ hoại mối liên hệ thần kinh tạm thời vì nếu sau khi thành lập ức chế dập tắt ta để cho chó nghỉ ngơi thì qua khoảng 20 phút tác dụng của tín hiệu lại làm xuất hiện phản xạ tiết nước bọt có điều kiện trở lại. Ức chế dập tắt phát triển càng nhanh nếu phản xạ có điều kiện chưa được bền vững và ngược lại.

Sự hình thành tiếng nói ở người

Sự hình thành tiếng nói ở người
 Hiện nay các nhà nghiên cứu cho rằng sự hình thành tiếng nói ở người trong quá trình phát triển cá thể giống như sự hình thành các phản xạ có điều kiện. Tiếng nói không phải là bẩm sinh, tiếng nói có được là do trẻ tiếp xúc và học tập được ở người lớn. Chứng minh cho nhận định này là các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi hay bị lạc trong rừng được chó sói nuôi dưỡng hoàn toàn không biết nói và không hiểu gì về xã hội loài người.  Các phản xạ hình thành tiếng nói bắt đầu xuất hiện ở trẻ em vào những tháng cuối của năm đầu tiên sau khi sinh. Trong thời gian này nhờ tiếp xúc với người lớn mà trẻ em nhận được phức hợp tiếng nói với một kích thích cụ thể nào đó hay một phức hợp nhiều kích thích cụ thể. Ví dụ, người lớn bảo em bé “ông

Quá trình ức chế không điều kiện


Ức chế  Trong vỏ não song song với hưng phấn có quá trình ức chế. Hai quá trình này có thể chuyển đổi nhau, là hai mặt của quá trình hoạt động của vỏ não, thống nhất với nhau. Hưng phấn đưa đến sự thành lập và xuất hiện phản xạ có điều kiện còn ức chế có tác dụng làm giảm cường độ hoặc đình chỉ phản xạ có điều kiện, bảo vệ các tế bào thần kinh của vỏ não và phục hồi năng lượng cho vỏ não.
 Dựa vào điều kiện phát sinh ức chế trong vỏ não, quá trình ức chế trong vỏ não được chia thành hai loại: ức chế không điều kiện và ức chế có điều kiện. 
 
 Ức chế không điều kiện
 Là loại ức chế có từ khi động vật sinh ra, không cần phải luyện tập. Ức chế không điều kiện thể hiện ở hai dạng: ức chế ngoài và ức chế trên giới hạn. 

Cơ chế hình thành đường liên hệ tạm thời


Đường liên hệ tạm thời  Theo quan điểm của I.P.Pavlov thì sự hình thành đường liên hệ tạm thời là kết quả của sự tác dụng tương hỗ giữa hai vùng vỏ não hưng phấn đồng thời: trung khu tiếp nhận kích thích có điều kiện và trung khu tiếp nhận kích thích không điều kiện, trong đó trung khu không điều kiện hưng phấn mạnh hơn trung khu có điều kiện. 

  Theo nguyên tắc ưu thế Ukhtomski thì trung khu hưng phấn mạnh hơn có khả năng lôi cuốn hưng phấn từ trung khu hưng phấn yếu hơn về phía nó. Sự dẫn truyền hưng phấn từ trung khu có điều kiện đến trung khu không điều kiện đã tạo ra con đường thần kinh tạm thời giữa hai trung khu này.

Vị trí hình thành đường liên hệ tạm thời


  Sự hình thành phản xạ có điều kiện thực chất là hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời.
Đường liên hệ tạm thời  Những công trình nghiên cứu về sinh lý so sánh hoạt động thần kinh cấp cao cho thấy các phản xạ có điều kiện đơn giản được hình thành ở tất cả các động vật có hệ thần kinh. Ở cá, lưỡng cư là những động vật chưa có vỏ não, nhưng cũng có thể thành lập được các phản xạ có điều kiện. Ở chim vỏ não mới kém phát triển, nhưng hoạt động phản xạ có điều kiện ở chúng đạt mức rất cao. Như vậy, ở các động vật chưa có vỏ não hoặc vỏ não kém phát triển vẫn có thể hình thành được các phản xạ có điều kiện.

  Ở trẻ em mới sinh, trong vài ba tuần đầu, khi vỏ não chưa hoạt động vẫn hình thành được phản xạ có điều kiện. Ở trẻ em sẽ xuất hiện động tác mút nếu trong nhiều ngày trước đó mỗi khi người mẹ sắp cho con bú ta cho tác động một tín hiệu nào đó như ánh sáng chẳng hạn.

Các điều kiện thành lập phản xạ có điều kiện


      Để thành lập phản xạ có điều kiện cần bảo đảm các điều kiện sau đây: 

 - Phải có sự phối hợp đúng lúc kích thích tín hiệu với kích thích củng cố. Kích thích tín hiệu phải bắt đầu trước kích thích củng cố. Nếu kích thích tín hiệu được bắt đầu đồng thời hoặc chậm hơn kích thích củng cố thì nó sẽ mất ý nghĩa tín hiệu và không gây ra được phản xạ có điều kiện.   

  - Kích thích tín hiệu phải là một kích thích vô quan, nghĩa là không có quan hệ gì với phản xạ không điều kiện được phối hợp, đồng thời kích thích đó cũng không được quá mạnh, quá mới lạ.
Điều kiện thành lập phản xạ có điều kiện

 - Cường độ của kích thích tín hiệu phải yếu hơn cường độ của kích thích củng cố, nghĩa là phải bảo đảm sự hưng phấn do kích thích tín hiệu gây ra yếu hơn sự hưng phấn do kích thích củng cố gây ra.

 - Vỏ não phải toàn vẹn, hệ thần kinh con vật phải ở trạng thái hoạt  động bình thường. Nếu khả năng hoạt động của não bộ giảm sút rất khó thành lập phản xạ có điều kiện.

Phân biệt phản xạ không điều kiện và có điều kiện

Phân biệt phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện
  Phản xạ từ tiếng La tinh (reflexio) có nghĩa là phản ánh. Hiện nay có thể hiểu phản xạ là sự phản ứng của cơ thể đối với sự kích thích vào các thụ cảm thể và được thực hiện với sự tham gia của hệ thần kinh trung ương, bảo đảm cho cơ thể thích ứng với môi trường sống. Mỗi phản xạ hầu như luôn luôn là phức hợp của các phản xạ không điều kiện và có điều kiện. Hai loại phản xạ này thống nhất với nhau thành một hoạt động phức tạp. Tuy nhiên, theo sự phát sinh của chúng thì hai loại phản xạ này hoàn toàn khác biệt nhau.

 Các phản xạ không điều kiện là phản xạ bẩm sinh, được di truyền, mang tính chất của loài, tương đối ổn định trong suốt đời sống của cá thể, là phản xạ phát sinh khi có kích thích thích ứng tác động lên các trường thụ cảm nhất định.  Các phản xạ có điều kiện là các phản xạ tập nhiễm được trong đời sống của cá thể, mang tính chất của cá thể, có thể bị mất đi khi điều kiện tạo ra nó không còn nữa, là phản xạ có thể được hình thành với các loại kích thích khác nhau tác động lên các trường thụ cảm khác nhau.  

 Toàn bộ các phản xạ không điều kiện theo ý nghĩa chức năng của chúng có thể chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, trong đó chủ yếu có các phản xạ dinh dưỡng, phản xạ tự vệ, phản xạ sinh dục, phản xạ vận động, phản xạ định hướng. Trong số các phản xạ dinh dưỡng có phản xạ nhai, phản xạ nuốt, phản xạ mút, phản xạ tiết các dịch tiêu hoá ... Các phản xạ tự vệ là các phản ứng tránh kích thích gây đau và có hại cho cơ thể. Trong các phản xạ sinh dục có các phản xạ liên quan với sự thực hiện động tác giao hợp, phản xạ nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Các phản xạ vận động là các phản ứng duy trì tư thế và chuyển dời các bộ phận cũng như toàn cơ thể trong không gian. Phản xạ định hướng là phản xạ phát hiện cái mới.

 Các phản xạ có điều kiện được thành lập trên cơ sở của bất cứ phản xạ không điều kiện nào, nên có thể phân loại các phản xạ có điều kiện theo các phản xạ không điều kiện. Tuy nhiên, theo cách thức hình thành, theo tính chất của các kích thích có thể phân chia các phản xạ có điều kiện thành các phản xạ có điều kiện tự nhiên, phản xạ có điều kiện nhân tạo.

 Phản xạ có điều kiện tự nhiên là các phản xạ có điều kiện được hình thành với các dấu hiệu hay đặc điểm tự nhiên của kích thích không điều kiện, ví dụ như mùi của thịt ...

Một lần nào đó chó được ăn thịt, sau đó ngửi thấy mùi thịt, ở chó xuất hiện phản xạ tiết nước bọt. Đặc  điểm của phản xạ có  điều kiện tự nhiên là bền vững, chúng  được hình thành nhanh chóng, chỉ sau một hoặc vài lần con vật nhận được đặc điểm tự nhiên của kích thích có điều kiện. 
Phản xạ có điều kiện ở chó

 Phản xạ có điều kiện nhân tạo được thành lập với các tác nhân không có các dấu hiệu tự nhiên liên quan với phản xạ không điều kiện. Phản xạ tiết nước bọt có điều kiện ở chó đối với tín hiệu ánh sáng đèn là một ví dụ về một phản xạ có điều kiện nhân tạo. Ánh sáng đèn không có những tính chất có thể gây tiết nước bọt. Các phản xạ có điều kiện nhân tạo là khó thành lập, không bền vững nên phải thường xuyên củng cố. Để có được phản xạ cần phải lặp đi, lặp lại nhiều lần giữa tín hiệu có điều kiện với kích thích không điều kiện. Ví dụ , phối hợp nhiều lần giữa ánh sáng đèn với thức ăn là kích thích không điều kiện gây tiết nước bọt thì ánh sáng đèn mới gây tiết nước bọt. Kích thích không điều kiện được gọi là tác nhân củng cố của tín hiệu có điều kiện.

Phương pháp nghiên cứu phản xạ có điều kiện của I.P.Pavlov


 Các phản xạ có điều kiện bài tiết nước bọt được I.P.Pavlov và cộng sự nghiên cứu đầu tiên trên chó vào những năm  đầu của thế kỷ XX. Phương pháp này  được coi là phương pháp kinh điển, có thể sử dụng để nghiên cứu hoạt động thần kinh cấp cao trên nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau. Sở dĩ như vậy là vì chó là loài động vật khoẻ mạnh, dẻo dai, đã được thuần hoá lâu đời, là người bạn đồng hành của con người từ thời tiền sử, biết nghe người. Chó cũng có bán cầu đại não phát triển. Các phản xạ bài tiết nước bọt dễ thành lập, không gây tổn hại đến động vật. Lượng nước bọt tiết ra dễ thu nhận, cường độ của phản xạ cũng dễ dàng xác định chính xác bằng giọt hoặc bằng độ chia của ống thu nước bọt.    
Phương phá nghiên cơus phản xạ có điều kiện của Paplop

Để nghiên cứu phản xạ có điều kiện theo phương pháp bài tiết nước bọt, con vật cần được chuẩn bị trước để có thể quan sát được quá trình tiết nước bọt. Muốn vậy, cần phải phẩu thuật tách ống dẫn nước bọt cùng với mảnh màng nhầy xung quanh miệng ống rồi đưa ra ngoài xoang miệng, khâu vào da ở vị trí thích hợp.

 Thí nghiệm thành lập phản xạ bài tiết nước bọt có  điều kiện tiến hành khi vết thương đã lành, ở phòng cách âm có trang thiết bị cần thiết để cố định, cho ăn, thu ghi kết quả, tách biệt với người làm thí nghiệm. 

Khái niệm về hoạt động thần kinh cấp cao


   Một em bé mới sinh có thể kêu khóc khi nhìn thấy chiếc thìa con mà người ta dùng để cho nó uống thuốc đắng trong những lần trước và cũng có khả năng nhận biết được người mẹ của mình. Ở động vật cũng vậy, chúng ta có thể nhận thấy khả năng nhận biết được tiếng nói của người chủ với tiếng nói của người lạ ở chó nuôi, sự mừng rỡ của nó khi chủ về. Người ta gọi những khả năng như vậy là hoạt động thần kinh cấp cao của người và động vật. 
Sinh lí thần kinh cấp cao

 Hoạt động thần kinh cấp cao là hoạt động của hệ thần kinh trung ương nhằm điều hoà, phối hợp các chức năng của các cơ quan trong cơ thể, đồng thời bảo đảm cho cơ thể thích ứng được với những điều kiện của môi trường sống luôn luôn biến động hay bảo đảm được mối quan hệ phức tạp giữa cơ thể với thế giới bên ngoài. 

 Bên cạnh đó, hệ thần kinh trung ương còn có chức năng điều hoà và phối hợp chức năng của tất cả các cơ quan trong cơ thể thành một khối thống nhất. Hoạt động đó của hệ thần kinh trung ương được gọi là hoạt động thần kinh cấp thấp. 

Cấu tạo và chức năng hệ thần kinh tự động (thần kinh thực vật)

Về mặt chức năng, hệ thần kinh có thể chia làm 2 phần:

- Hệ thần kinh động vật: thực hiện chức năng cảm giác và vận động.

- Hệ thần kinh thực vật: thực hiện chức năng điều hòa hoạt động của tất cả các cơ quan nội tạng, mạch máu, tuyến mồ hôi... cũng như sự dinh dưỡng của toàn bộ các cơ quan trong cơ thể kể cả hệ thần kinh, các chức năng này được thực hiện một cách tự động. Vì vậy, hệ thần kinh thực vật còn được gọi là hệ thần kinh tự động. Tuy nhiên, khái niệm tự động không hoàn toàn tuyệt đối vì hệ thần kinh thực vật còn chịu sự chi phối của vỏ não.
Trong thực tế, vỏ não có thể điều khiển một số chức năng của hệ thần kinh tự động.
Cấu tạo hệ thần kinh tự động

Hiện tượng điện trong vỏ bán cầu đại não và các loại sóng não


Các tế bào thần kinh trong vỏ não các bán cầu đại não cũng như các tế bào trong các cấu trúc khác của hệ thần kinh trung ương có khả năng phát điện khi chúng bị kích thích hoặc có các xung động từ các tế bào thần kinh khác truyền đến. Trong vỏ não có rất nhiều synapse, ở đây cũng phát sinh điện thế hưng phấn và ức chế sau synapse. Sự tổng cộng các điện thế tế bào và điện thế synapse sẽ tạo ra điện thế tổng hợp được biểu diễn bằng các dao động điện thế. Nếu ta đặt lên bề mặt vỏ não hay da đầu hai điện cực và nối chúng với máy ghi điện não ta có thể ghi các dao động điện. Ðường ghi các dao động điện từ vỏ não được gọi là điện não đồ (electroencephalogram), đúng hơn là điện vỏ não đồ.

- Các chuyển đạo của điện não đồ
Muốn ghi dòng điện não, ta nối 2 điện cực đặt ở 2 điểm nào đó với cần ghi của máy. Mỗi đường ghi được gọi là một chuyển đạo. Các điện cực có thể đặt trên da đầu, xương sọ, màng não hoặc trong tổ chức của não. Nhưng thông thường nhất là đặt trên da đầu.
Điện não

Có 2 loại chuyển đạo: 

+ Chuyển đạo đơn cực: Một điện cực được đặt ở vùng có hoạt động điện não cần thăm dò, điện cực kia là điện cực trung tính được đặt ở dái tai hoặc mũi.

Cấu tạo và chức năng bán cầu đại não

1. Ðặc điểm cấu tạo
Ðại não gồm 2 bán cầu đại não phải và trái, ngăn cách nhau bởi rãnh gian bán cầu. Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày 2-4 mm bao xung quanh gọi là vỏ não. Gồm: thùy trán, thùy chẩm, thùy đỉnh, thùy thái dương.
Cấu tạo bộ não

2. Chức năng của vỏ não
Vỏ não là trung tâm của nhiều chức năng thần kinh quan trọng: Chức năng vận động.Chức năng cảm giác.Chức năng giác quan.Chức năng thực vật. Mỗi vùng của vỏ não ứng với một chức năng nhất định. Ngoài ra, vỏ não còn là trung tâm của các hoạt động thần kinh cao cấp như: tư duy, tình cảm...

Thành phần và sự lưu thông dịch não tủy



Dịch não tủy là một loại dịch ngoại bào đặc biệt lưu thông trong các não thất và trong khoang dưới nhện do các đám rối màng mạch trong các não thất bài tiết. Số lượng dịch não tủy ở người trưởng thành khoảng 140ml và trong 24 giờ dịch não tủy được đổi mới từ 3 đến 4 lần.
Chọc dò dịch não tủy

1. Sự lưu thông của dịch não tủy
Từ 2 não thất bên ở 2 bán cầu đại não, dịch não tủy theo lỗ Monro đổ vào não thất III nằm ở gian não. Từ não thất III, dịch não tủy theo cống Sylvius đổ vào não thất IV nằm ở hành- cầu não. Từ  đây, dịch não tủy theo các lỗ Magendie và Luschka  đi vào khoang dưới nhện rồi bao bọc xunh quanh não bộ và tủy sống. Sau đó, dịch não tủy được các mao mạch hấp thu trở lại để đi vào tuần hoàn chung. Khi các đường lưu thông này bị tắc, dịch não tủy sẽ ứ đọng lại trong các não thất gây nên bệnh não úng thủy (hydrocephalus).

2. Chức năng của dịch não tủy

- Chức năng dinh dưỡng và đào thải
Dịch não tủy trao đổi vật chất 2 chiều với tổ chức thần kinh trung ương bằng cách cung cấp các chất dinh dưỡng và lấy đi các chất thải sinh ra trong quá trình chuyển hóa.

- Chức năng bảo vệ
Dịch não tủy có tác dụng bảo vệ tổ chức thần kinh thông qua 2 cơ chế:
+ Ngăn cản không cho các chất độc lọt vào tổ chức thần kinh.
+ Ðóng vai trò như một hệ thống đệm để bảo vệ não và tủy khỏi bị tổn thương mỗi khi bị chấn thương.

Cấu tạo và chức năng vùng dưới đồi


1. Ðặc điểm cấu tạo
Vùng dưới đồi là một tập hợp nhiều nhân xám (khoảng 40 nhân) nằm ngay dưới đồi thị và xung quanh não thất III. Kích thước khoảng 1 cm3. Các nơron cấu tạo vùng dưới đồi chia làm hai loại: Nơron có chức năng dẫn truyền, Nơron có chức năng bài tiết hormon.

Các nhân xám của vùng dưới đồi có thể chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm có một số nhân chính sau  đây:- Nhóm trước: Nhân cạnh não thất, Nhân trên thị, Nhân tréo thị- Nhóm giữa: Nhân bụng giữa, Nhân lưng giữa, Nhân phễu- Nhóm sau: Nhân trước vú, Nhân sau vú, Nhân củ vú
Cấu tạo bộ não