PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH BẰNG GẠO LỨT CỦA TUỆ TĨNH



PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH BẰNG GẠO LỨT CỦA TUỆ TĨNH


Danh y Tuệ Tĩnh đã sử dụng gạo lứt để chữa nhiều bệnh. Sau đây là một số bệnh thường gặp:

1/ Đau bụng tiêu chảy: 

Gạo nếp 120 hạt, gừng sống 1 miếng, giã nát, hòa đều với nước. đun sôi để nguội rồi uống.


2/ Đau bụng tiêu chảy mất nước:


Gạo tẻ nghiền thành bột 20g, với 20ml nước, thêm vào 10ml nước vòi măng tre, hòa đều uống hết. Hoặc cơm gạo tẻ sao vàng một nắm bằng quả quýt, bột sắn dây 5 - 10g, lá tre, gừng sống 5 lát, sắc uống ấm.

3/ Đau bụng khát nước:


Gạo 30g, nước 1 bát sắc uống. Hoặc gạo nếp 10 – 15 g, lá lau 15g, nước vòi măng tre 5g, đổ 1 bát nước vào sắc, cho thêm nước gừng và mật, mỗi thứ nửa chén nhỏ. Gộp lại sắc sôi vài lần, thỉnh thoảng uống 1 ít. Hoặc gạo nếp 30g, mật 10 g, nước 1 bát sắc sôi để nguội rồi uống.

4/ Tiêu chảy lâu ngày, ăn kém ngon miệng:


Gạo nếp 100g ngâm nước 1 đêm, phơi khô sao chín, củ mài 30g tán nhỏ trộn đều, mỗi sáng sớm dùng 10g, cho vào 3 thìa cà phê đường cát với 2g bột hồ tiêu, đổ nước nóng vào uống.

5/ Người già, tạng phủ hư tổn, gầy yếu:


Gạo 20g, hành 3 củ, chim sẻ 3 con (nhổ lông, rửa sạch, bỏ ruột), nấu chín, cho vào 1 chén rượu, lại nấu 1 lúc nữa, đổ thêm vào 2 bát nước. Nấu cháo ăn mỗi sáng 1 lần.

6/ Tiêu chảy sau khi sinh đẻ:

Gạo lứt và muội nồi hai thứ bằng nhau cùng tán nhỏ, mỗi lần uống 3g với nước cam vào lúc đói.

7/ Đẻ rồi, són tiểu không giữ được:


Gạo nếp 500g, bong bóng lợn và dạ dày lợn mỗi thứ 1 cái. Nhét nếp vào trong bong bóng lợn, lại nhét bong bóng vào trong dạ dày lợn, cho thêm 3 lát gừng, 2 củ hành, 5g vỏ quýt và một ít muối, nấu ăn.

8/ Sau sinh không có sữa:

Gạo nếp toàn mễ (gạo nếp lứt) và hạt mùi mỗi thứ 5 – 10g, nấu cháo ăn.


9/ Trẻ con ho khạc máu bầm:


Gạo nếp lứt 15 – 20g, rễ dâu 1 nắm, ngâm nước vo gạo 3 ngày đêm. Xát sạch vỏ đỏ và bỏ lõi, chỉ lấy lớp trắng 10g, sao lẫn nhau cho vàng, tán bột, mỗi lần uống từ 3 – 5g với nước cơm.

10/ Trẻ con bị chốc đầu:


Cám gạo, da mặt trống thủng 1 miếng, đốt tán nhỏ. Cám gạo đốt trong bát cho ra dầu, trộn vào bột da mặt trống. Lấy lá đào vò ra nước, lau vào chỗ đau cho sạch, lau khô rồi rắc thuốc vào.

11/ Vết thương lở loét, hạ nang chảy nước:


Dùng 3 thứ than: trấu, rơm, rạ 100% , cám rang 100%, lá tía tô 200%, tán nhỏ rắc lên vết thương.

BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN



BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN

1/ Thông tin chung:


Bệnh viêm não Nhật Bản được ghi nhận từ năm 1871. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên xuất hiện những trường hợp bệnh rải rác nên bệnh được đặt theo tên quốc gia này. Bệnh thật sự được nghiên cứu từ sau khi xảy ra trận dịch lớn với hơn 6000 người mắc bệnh tại Nhật vào năm 1924. Hiện nay có khoảng 3 tỷ người sống trong vùng dịch lưu hành của viêm não Nhật Bản. 


Lứa tuổi thường mắc bệnh nhất là trẻ em từ 3 - 15 tuổi, tỷ lệ cao gấp 5 - 10 lần so với người lớn. Tỷ lệ tử vong trung bình 25 - 33 %, nhưng những bệnh nhân sống sót cũng mang nhiều di chứng chiếm tỷ lệ trên 50%.


Nguồn bệnh là Arbovirus (virus viêm não Nhật Bản) chủ yếu gây bệnh cho thú vật như chim, lợn, dê, bò, ngựa,.... Từ các con vật này, virus được lây truyền sang người qua trung gian một loại muỗi có tên là Culex. Muỗi này ưa hoạt động quanh và trong nhà, thường hút máu về đêm từ 18 - 22 giờ, ngừng hoạt đông lúc 8 giờ sáng.


Bệnh thường xảy ra vào mùa nóng. Các nước sau đây thường có dịch viêm não Nhật Bản: Malaysia, Myanma, Singapore, Philippin, Indonesia, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản,…

2/ Triệu chứng của bệnh viêm não Nhật Bản:

Triệu chứng rất đa dạng, có khi diễn tiến nhanh chóng dẫn đến hôn mê và tử vong, có khi diễn tiến từ từ với nhiều cơn co giật rồi sau đó dẫn đến di chứng không hồi phục về sau.


a) Thời kỳ nung bệnh: Trung bình 1 tuần, thường không có triệu chứng rõ rệt.

b) Thời kỳ khởi phát: Trung bình 1 đến 4 ngày với các hội chứng:

- Hội chứng nhiễm trùng: sốt 38 đến 39 độ C, ho, khó thở, có thể tiêu chảy, nôn mửa.

- Hội chứng thần kinh: mất ngủ hoặc ngủ gà ngủ gật, vã mồ hôi, đau đầu, nôn ói.


c) Thời kỳ toàn phát:

- Hội chứng nhiễm trùng: sốt cao 39 đến 40 độ C, nôn ói, tiêu chảy.

- Hội chứng tâm thần, thần kinh: co giật thường xuyên kiểu động kinh, có thể lơ mơ, hôn mê. Kèm theo vã mồ hôi, cổ cứng, thay đổi tính cách, mê sảng,…

Bệnh có thể diễn tiến theo 3 hướng:

a) Tử vong: sốt cao liên tục trên 39 - 40 độ C, co giật, suy hô hấp và tử vong trong tuần lễ đầu.

b) Khỏi bệnh: bệnh nhân tỉnh lại và hồi phục gần như hoàn toàn.

c) Có di chứng: là diễn tiến thường gặp nhất của bệnh viêm não Nhật Bản. Sốt giảm từ từ, tuy nhiên bệnh nhân vẫn còn những rối loạn tâm thần và thần kinh như: 

- Yếu liệt, điếc, giảm thị lực, parkinson, động kinh, nói khó 

- Thay đổi tính cách, tăng động, múa giật.

- Suy giảm trí tuệ, giảm trí nhớ.

- Mất ngủ, ngủ gà, rối loạn thức ngủ.


3/ Tiên lượng của bệnh viêm não Nhật Bản:

Tiên lượng xã hội của những bệnh nhân sống sót nói chung là xấu. Khả năng thích ứng của họ với gia đình và xã hội sau này thường bị hạn chế. Ở người lớn sẽ có những rối loạn tinh thần và nhân cách, mất ý chí, mất kiềm chế, ảo giác, mất các kỹ năng tinh vi trong nghề nghiệp. Ở trẻ em có những rối loạn về trí tuệ và trí nhớ, không thể tiếp thu bài học, khó dạy bảo.


4/ Điều trị bệnh viêm não Nhật Bản:

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng. Vì vậy, khi phát hiện người bệnh có những triệu chứng nghi ngờ bị viêm não Nhật Bản như: sốt cao, đau đầu, nôn ói, tiêu chảy, thay đổi tính cách, lơ mơ,… nên đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời, hạn chế tử vong và di chứng sau này. Các biện pháp điều trị gồm có:


- Chống sốt cao: lau mát tích cực, hạ sốt bằng thuốc (Paracetamol).

- Chống phù não, chống co giật.

- Chống suy hô hấp: hút đàm, thở oxy.

- Hồi phục nước, điện giải, truyền dịch.

- Phòng chống bội nhiễm, kháng sinh dự phòng.

- Thuốc diệt siêu vi khi cần thiết.

5/ Phòng bệnh:

Đối với bệnh viêm não Nhật Bản thì vấn đề phòng bệnh quan trọng và ý nghĩa hơn chữa bệnh, vì một khi đã mắc bệnh thì tiên lượng thường không tốt. Chúng ta có thể phòng bệnh bằng những biện pháp sau đây:

a) Chủng ngừa: hiện nay đã có thuốc chủng ngừa viêm não Nhật Bản. Đối tượng cần tiêm ngừa rộng rãi ở nước ta là trẻ em từ 3 - 15 tuổi.


b) Diệt muỗi, chống muỗi đốt bằng cách ngủ mùng.


c) Nuôi lợn, dê, gà,… xa nhà để tránh lan tràn bệnh từ súc vật sang người.


CHÓNG MẶT: DÙNG THUỐC GÌ?



CHÓNG MẶT: DÙNG THUỐC GÌ?


1/ Chóng mặt là gì?

Chóng mặt là rối loạn rất khó chịu do có cảm giác về chuyển động mà thực tế không có chuyển động này, hoặc có chuyển động mà cơ thẩ lại cảm nhận quá mức. Ví dụ như cảm thấy mọi vật xung quanh chuyển động quay cuồng, chao đảo quanh mình mà thực tế cảnh vật đứng im.


Có chóng mặt đơn thuần, tức không kèm theo rối loạn khác. Có chóng mặt kèm theo buồn nôn, nôn, mất thăng bằng, ù tai, đổ mồ hôi,…

Chóng mặt có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhiều ở người cao tuổi. Nữ thường bị chóng mặt hơn nam (nữ gấp 3 lần so với nam).

2/ Chóng mặt có mấy loại?

Chóng mặt do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng có thể chia làm 2 loại:


- Chóng mặt có nguồn gốc ngoại biên: thực chất liên quan đến rối loạn ở bộ phận tai trong gọi là tiền đình. Vì vậy, loại chóng mặt này còn gọi là rối loạn tiền đình.


- Chóng mặt có nguồn gốc trung ương: liên quan đến trung tâm kiểm soát thăng bằng trên não như bị tai biến mạch máu não, nhồi máu tiểu não, đau đầu Migraine, bệnh Parkinson,…Chóng mặt loại này thường kèm theo nôn ói, rối loạn thị giác, lú lẫn, yếu một phần cơ thể,…

3/ Chóng mặt do rối loạn tiền đình:


Có nhiều nguyên nhân:

- Chóng mặt rối loạn tiền đình do dùng thuốc, rượu, ma túy.


- Chóng mặt rối loạn tiền đình do nhiễm virus (cúm, Zona, thủy đậu,…), nhiễm vi khuẩn gây viêm tai trong.

- Chóng mặt rối loạn tiền đình do bệnh Meniere, bệnh này gây dịch tiết quá nhiều dẫn đến ứ đọng dịch ở tai trong. Có 3 biểu hiện: chóng mặt, ù tai, giảm thính lực.

- Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính: do hình thảnh sỏi trong ống bán khuyên của tiền đình, gây chóng mặt đột ngột khi thay đổi tư thế đầu.

4/ Các thuốc điều trị chóng mặt:

Các thuốc thông thường điều trị chóng mặt có bán phổ biến tại những nhà thuốc gồm có:

- Thuốc là dẫn xuất axit amin: Tanganil.


- Thuốc kháng histamin: Clopheniramin, Cinnarizin.


- Thuốc chủ vận histamin: Betahistin.


- Thuốc ức chế kênh Canxi: Flunarizin.


Các thuốc cần có sự chỉ định của bác sĩ như:

- Thuốc glucocorticoide: như Prednisolone, Methylprednisolone.

- Thuốc an thần: Diazepam, Lorazepam.

- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng: Amitriptylin, Nortriptylin.

- Thuốc dưỡng não: Ginkgo biloba, Piracetam.


5/ Bị chóng mặt đơn thuần có nên dùng Tanganil?


Tanganil từ lâu được dùng trị hiệu quả một số cơn chóng mặt, đặc biệt là chóng mặt đơn thuần. So với thuốc trị chóng mặt khác, Tanganil rất ít gây tác dụng phụ có hại. Đã có một số nghiên cứu chứng tỏ Tanganil thúc đẩy quá trình bù trừ tiền đình nhằm cải thiện chóng mặt. Khi bệnh nhân bị chóng mặt làm khó chịu mà không có rối loạn nào khác, có thể dùng một loại thuốc trị chóng mặt như Tanganil.

6/ Những lưu ý khi bị chóng mặt:


Nếu chóng mặt không giảm sau vài ngày uống các loại thuốc điều trị thông thường, nên đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để được các y bác sĩ khám bệnh và tư vấn điều trị đúng đắn, kịp thời. Các bác sĩ có thể chỉ định dùng thêm thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng virus, an thần, dưỡng não,… Hoặc chỉ định các xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính não, chụp cộng hưởng từ, X Quang,… để phát hiện ra nguyên nhân gây chóng mặt trung ương và có hướng xử trí thích hợp.






CÁC VỊ THUỐC CHỮA BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA (PHẦN 2)



CÁC VỊ THUỐC CHỮA BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA (PHẦN 2)

1/ Gừng:


Chỉ dùng củ, cắt bỏ lá và rễ. Có thể dùng tươi hay sắc lát phơi khô. Vị cay, thơm, tính ẩm.

Công dụng: trị bụng chướng, nôn ọe, lỵ ra máu, lạnh bụng.

2/ Hoắc hương:


Thân và lá dùng để làm thuốc. Lá phơi khô, thân thái nhỏ phơi khô. Vị cay, thơm hắc, tính hơi ẩm.

Công dụng: trị nôn mửa, tiêu chảy, thổ tả, ăn không tiêu.

3/ Quýt:


Vỏ, quýt, lá quýt, nước quả quýt dùng làm thuốc, có thể dùng tươi hay khô.

Công dụng: trị ăn không tiêu, nôn mửa, đau bụng.

Ăn không tiêu, nôn mửa: một ngày ăn 4 - 12 gram vỏ quýt.

Đau bụng: dùng lá quýt hơ nóng đắp lên, dùng thân vỏ quýt phơi khô sắc với nước uống.

4/ Đậu ván trắng:


Quả già phơi khô làm thuốc. Vị ngọt, tính mát, không độc.

Công dụng: trị ngộ độc thức ăn, viêm dạ dày, viêm ruột, tả lỵ.

Trúng độc: dùng 20 gr đậu ván trắng giã sống, thêm ít nước, vắt lấy nước uống.

Hoặc đậu ván trắng nướng cho cháy, nghiền thành bột, hòa với nước uống.

Dịch tả: dùng đậu ván trắng tán thành bột, hòa với giấm để uống, có thể thêm hương nhu.

5/ Rau đay:


Lá và hạt dùng làm thuốc. Rau đay vị ngọt, tính mát, hạt có vị đắng, tính lạnh.

Công dụng: giải nhiệt, nhuận trường, trị táo bón.

6/ Rau mùi (ngò ta):


Rễ, lá và quả dùng làm thuốc. Thường thu hái và phơi khô để dùng. Rau mùi vị cay, tính ấm, mùi thơm.

Công dụng: trị tiêu ra máu, khó tiêu, giun kim. 

Giun kim: hạt rau mùi tán nhỏ, trộn với trứng gà luộc, thêm ít dầu mè, giã nhuyễn tất cả, nhét vào hậu môn.

Trĩ: hạt rau mùi sao cho thơm, tán nhỏ uống với rượu lúc bụng đói.

7/ Rau thì là (thìa là):


Thường dùng lá nấu với cá. Hạt thì là dùng làm thuốc. Quả thì là vị cay, tính ấm, không độc.

Công dụng: trị đau bụng, khó tiêu.

Khó tiêu, đau bụng: nhai kỹ quả thì là, nuốt cả bã lẫn nước.

Đau xóc dưới sườn: thì là sao vàng, tán thành bột uống với rượu hòa muối.

8/ Măng cụt:


Vỏ, quả dùng làm thuốc. Có thể dùng khô hay tươi.

Công dụng: trị đau bụng, tiêu chảy, lỵ, vàng da.

9/ Cây ổi:


Lá non, búp non, vỏ dộp, rễ đều làm thuốc. Có thể dùng quả còn xanh và quả chín, thái mỏng, phơi khô để dành dùng. Búp non, lá non, vỏ dộp, rễ: vị đắng chát, có tính ấm. Quả xanh: vị ngọt, hơi chua, quả chín vị ngọt, tính ấm.

Công dụng: trị đau bụng, tiêu chảy, tiêu viêm, cầm máu.

10/ Rau mồng tơi:


Thường dùng tươi, vị chua, tính lạnh, không độc.

Công dụng: giải nhiệt, giải độc. 

Táo bón: giã nát lá mồng tơi, vắt lấy nước cốt uống với nước, sau 1 đến 2 giờ ăn thêm khoai lang.

Sưng trĩ: giã nhuyễn lá mồng tơi đắp vào chỗ trĩ, đồng thời nấu canh mồng tơi với cá diếc ăn cả nước lẫn cái.

11/ Lá lốt:


Thường dùng tươi. Thân, hoa, rễ dùng làm thuốc. Vị cay, mùi thơm, tính rất ấm.

Công dụng: trị nôn mửa, đầy hơi, sình bụng, tiêu chảy.

12/ Cà rốt:


Củ làm thuốc, có thể dùng tươi hay khô.

Công dụng: trị tiêu chảy, giun sán, xuất huyết.

Tả lỵ: luộc củ cà rốt. nhai kỹ củ cà rốt và ăn cùng với nước luộc.

Giun sán: thái mỏng củ cà rốt, sao khô, tán thành bột. Mỗi lần dùng 4 muỗng, uống vào buổi sáng khi chưa ăn.

Tiêu chảy: dùng nửa ký cà rốt nấu nhừ với nước, chia làm 6 lần ăn trong ngày.

Xuất huyết: thái dọc củ cà rốt, xào với dầu mè, thêm mè nguyên hạt, ăn trong ngày khoảng 3 củ.

13/ Rau răm:


Thân và lá làm thuốc, thường dùng tươi. Vị cay, tính ấm, không độc.

Công dụng: trị đau bụng, khó tiêu, kích thích tiêu hóa, chống nôn. Lấy cả thân và lá giã nát, vắt nước cốt uống hoặc ăn sống.

14/ Bạc hà:


Thân, cành, lá dùng làm thuốc, phơi trong bóng râm. Vị cay, tính mát.

Công dụng: trị kém ăn, không tiêu, đau bụng.

15/ Hành:


Thường dùng tươi, vị cay, tính bình.

Công dụng: sát trùng, diệt ký sinh trùng đường ruột, kích thích thần kinh, làm dễ tiêu hóa.

Chú ý: hành kỵ với mật, táo, cá chép, thịt chó, thịt chim trĩ.