Những chú cún dễ thương nhất

Chó là người bạn trung thành của con người, và con người cũng dành nhiều tình cảm đặc biệt cho loài vật này. Blog Sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn bộ sưu tập những hình ảnh các chú cún dễ thương. 
những hình ảnh chú cún dễ thương, những chú chó cute,

Hình ảnh hoa đẹp nhất 2014

Những hình ảnh hoa đẹp nhất 2014 giúp cuộc sống của con người thêm thi vị
Những bông hoa góp phần tô điểm thêm cho thiên nhiên, cho cuộc sống thêm màu sắc. Có những loài hoa đẹp bởi sự khoe sắc sặc sỡ, còn những loài hoa khác lại đẹp bởi sự đơn giản, mộc mạc. 

Hình ảnh hoa đẹp nhất 2014

30 hình ảnh đẹp về các loại hoa

Những bông hoa góp phần tô điểm thêm cho thiên nhiên, cho cuộc sống thêm màu sắc. Có những loài hoa đẹp bởi sự khoe sắc sặc sỡ, còn những loài hoa khác lại đẹp bởi sự đơn giản, mộc mạc. 
Hình đẹp về các loài hoa, hình ảnh hoa đẹp, hình hoa đẹp, hình hoa đẹp nhất 2013

Hình ảnh đẹp các loài hoa

Mùa xuân đến cũng là lúc mọi vật khoe sắc, trăm hoa đua nở. 

Ảnh đẹp các loài hoa, hình đẹp các loài hoa,

Hình ảnh động vật ngộ nghĩnh

Blog Sinh học Online xin chia sẻ đến các bạn bộ sưu tập những hình ảnh động vật ngộ nghĩnh. 
Ảnh đẹp động vật, ảnh động vật ngộ nghĩnh

Ảnh động về động vật ngộ nghĩnh

Nhiều loài động vật rất dễ thương, đáng yêu và dặc biệt có những khoảnh khắc thật ngộ nghĩnh, hài hước. Mời các bạn cùng blog sinh học Online xem những hình động ngộ nghĩnh của các loài vật. Chúc các bạn có những giây phút sảng khoái, vui vẻ. 
Ảnh động động vật ngộ nghĩnh, đáng yêu

Cuộc sống loài cầy vằn châu Phi

Cuộc sống loài cầy vằn
Cầy vằn là loài thú nhỏ đào hang thường thấy trên khắp miền nam Châu Phi. chúng không phải là mèo mà thuộc gia đình nhà cầy. Cầy vằn có khả năng đứng trên hai chân sau để cảnh giác các loài vật ăn thịt, và sử dụng đuôi giúp chúng giữ cân bằng. Chúng có đôi mắt lớn, và lông xung quanh mắt màu đen có tác dụng như kính mát trong ánh nắng mặt trời của châu Phi.

Cầy vằn thường sống thành đàn từ 10 - 30 con, chúng sống trong các hang với nhiều phòng. Đời sống thành đàn giúp chúng dễ dàng chăm sóc con non và an toàn hơn trước kẻ ăn thịt.

Khi chúng rời khỏi hang vào ban ngày, một số con được phân công nhiệm vụ đứng gác, số còn lại kiếm ăn và chăm sóc con non. Chúng là loài ăn tạp, thực đơn của chúng bao gồm bọ cạp, côn trùng, chim, trứng chim, thằn lằn, trái cây.

Video và hình ảnh về vòng đời của bướm

Vòng đời của một con bướm bắt đầu từ giai đoạn trứng. Bướm thường đẻ trứng trên lá những loại cây là thức ăn ưa thích của chúng. Trứng rất bé và có nhiều hình dạng khác nhàu nhưng chủ yếu là dạng hình cầu.
Mặt đáy của trứng còn có một lớp keo dán đặc biệt nhanh chóng cứng rắn để giữ cố định quả trứng trên lá. Bản chất của loại keo này vẫn là một ẩn số chỉ biết là chúng rất cứng, không thể tách rời được.
Vòng đời của bướm
Trứng “bám” rất chắc trên lá

Hình ảnh dễ thương của gấu trúc Bắc Mỹ

Gấu trúc Bắc Mỹ là loài vật đáng yêu, thông mình và rất tò mò. Màu đen ở mắt của chúng giống như mặt nạ tên cướp.

Chân trước của Gấu trúc Bắc Mỹ có 5 ngón giống như tay người và chúng cũng được dùng để chọn trái cây và nhặt thức ăn. Chúng là loài ăn tạp, bao gồm cả trái cây, hạt, quả mọng, ấu trùng, côn trùng, chuột, trứng và cá.

Ảnh đẹp về gấu trúc bắc mỹ

Những hình ảnh đẹp nhất của Chim thiên đường

Trong thế giới của loài chim, chim thiên đường được xem là một trong những loài đẹp nhất vì chúng cố bộ lông vô cùng sặc sỡ cùng những vũ điệu độc đáo của chim đực để tán tỉnh bạn tính. 

Có khoảng hơn 30 loài trong họ hàng chim thiên đường, chúng được phân biệt nhau bởi màu sắc nổi bật trên lông. Con đực thường có những màn biểu diễn sôi động cùng với màu sắc lông sặc sỡ hay những vật trang trí khác như chùm lông ở đầu,... điều này giúp chúng hấp dẫn con cái trong mùa sinh sản. màn biểu diễn của chim thiên đường đực có thể kéo dài hàng giờ đồng hồ. Chúng phân bố ở Oxtrâylia.

Blog sinh học Online xin mời các bạn cùng ngắm những hình ảnh sặc sỡ, những màn biểu diễn hấp dẫn của chim thiên đường:
Hình ảnh đẹp chim thiên đường

Hình ảnh dễ thương của gấu trúc đỏ

Gấu trúc đỏ
Gấu trúc đỏ là một loài động vật có vú dễ thương, có nhiều màu sắc nhưng kích thước của chúng chỉ khoảng bằng con mèo nhà. Chúng có khuôn mặt thật đáng yêu với những họa tiết giống như mang mặt nạ với những râu dài màu trắng, bông tai trắng, bộ lông màu nâu đỏ, đặc biệt gấu trúc đỏ có đuôi dài sọc. Gấu trúc đỏ sử dụng đuôi để giữ thăng bằng và quấn quanh cơ thể để giữ ấm khi cần. Màu sắc đỏ và trắng của họ có vai trò để ngụy trang vì dễ hòa lẫn với màu của rêu đỏ và địa y trắng ở nơi sống của chúng.

Chúng leo trèo rất giỏi và cũng rất nhút nhát nên dành phần lớn thời gian ăn và ngủ trên cây. Gấu trúc đỏ chủ yếu ăn lá tre và măng thầu cũng như các loại quả mọng, hoa, trứng chim, sồi, nấm và nhiều loại lá cây khác.

Gấu trúc đỏ sống ở vùng rừng tre ôn đới ở các chân đồi ở Hy Lạp, phía Tây Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, NêPan, Bhutan, Miến Điện.

Cơ sở của việc bón phân hợp lý.



Để có cơ sở cho việc bón phân hợp lý, ngoài việc xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây, còn phải xác định khả năng cung cấp của đất.
Bón phân hợp lí

1. Xác định khả năng cung cấp của đất.
Khả năng cung cấp của đất là lượng chất dinh dưỡng trong đất hay độ màu mỡ của đất. Độ màu mỡ này tùy thuộc vào các loại đất khác nhau. Có thể sử dụng phương pháp hóa học và sinh học để xác định độ phì nhiêu của đất.

- Phương pháp phân tích hóa học
Phương pháp phân tích hóa học là phương pháp nhanh chóng nhất.  Để xác định độ phì nhiêu của đất, cần tiến hành phân tích thành phần các nguyên tố dinh dưỡng có trong đất. Hàm lượng dinh dưỡng trong đất gồm 2 chỉ tiêu: tổng số và dễ tiêu.

Lượng chất dinh dưỡng dễ tiêu thường di động trong dung dịch đất. Phân tích lượng dinh dưỡng dễ tiêu cần phải hòa tan trong nước và trong dung môi. Nhưng trên thực tế khó tìm ra được một dung môi hòa tan hết các chất  đó như môi trường cây  đã hút vì vậy các phân tích vẫn không chính xác tuyệt đối .
   

Cơ chế cố định Nitơ của vi sinh vật



Cơ chế hóa sinh của quá trình cố định nitơ cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ hoàn toàn, nhưng đa số các nhà nghiên cứu đồng ý với giả thuyết cho rằng NH3 là sản phẩm đồng hóa sơ cấp của nitơ và có thể nêu ra giả thuyết về 2 con đường cố định nitơ của vi sinh vật sống tự do trong đất như hình 7.
Sơ đồ quá trình cố định đạm

Trong công nghiệp, nhờ các chất xúc tác nên năng lượng dùng cho phản ứng cố  định nitơ  được giảm nhiều, chỉ vào khoảng 16-20 Kcalo/M, song lượng năng lượng vẫn còn lớn so với trong cơ thể sinh vật. Tốc độ phản ứng nhanh chóng trong tế bào vi sinh vật ở nhiệt độ thấp nhờ có hệ thống enzyme hydrogenase họat hóa H2 và enzyme nitrogenase hoạt hóa nitơ.

Năm 1961-1962, người ta đã tách từ Clostridium pasteurrianum hai tiểu phần hoạt hóa H2 và nitơ. Sau này người ta tìm thấy  ở Azotobacter cũng có các tiểu phần đó. Trong quá trình hoạt hóa này có sự tham gia của 2 nguyên tố khoáng Mo và Fe.
Fd là cầu nối giữa 2 hệ enzyme hydrogenase và nitrogenase để cố định nitơ. 

Các nhóm vi sinh vật có khả năng tổng hợp nitơ

Những nhóm vi sinh vật có khả năng tổng hợp nitơ.
1. Nhóm vi sinh vật tự do
Dựa vào nhu cầu O2 có thể phân biệt vi sinh vật cố định đạm sống tự do trong đất thuộc hai nhóm: nhóm hiếu khí và nhóm kị khí.

- Nhóm vi sinh vật hiếu khí sống tự do trong đất thường gặp như loài Azotobacter chroococcumA. Vinelandii  và nhiều loài khác trong chi Azotobacter. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa Azotobacter và cây trồng. Chúng có tác dụng làm tăng cường nguồn thức ăn N cho cây. Nhờ đặc tính oxy hóa hiếu khí trong quá trình trao đổi chất nên hiệu quả cố định N cao hơn nhiều so với nhóm kị khí. Trung bình khi tiêu thụ 1g glucoza, Azotobacter có khả năng đồng hóa được 10-15mg N2. Tác dụng của Azotobacter đối với cây trồng còn được chứng minh ở khả năng tạo các chất kích thích sinh trưởng như thymine, acid nicotinic, acid pantotenic, biotin....
Ngoài ra còn có chi Beijerinckia cũng là loại vi khuẩn hiếu khí cố định N2 nhưng có khả năng chịu chua cao hơn nhiều so với Azotobacter. 
Azotobacter
Azotobacter


- Nhóm vi sinh vật kị khí sống tự do thuộc chi Clostridium, đặc biệt là loài C. pasteurianum có hoạt tính cố định N2 cao hơn các loài khác của chi này. Từ quá trình lên men butyric:
C6H12O6  -->   C3H7COOH  +  2CO2  +  4H+
Hydro trong quá trình này được Clostridium sử dụng để kết hợp với ni tơ 
2N2 + 3H2   -->   2NH3

Hiện nay ngoài loài  C. pasteurianum người ta còn nhận thấy có nhiều loài thuộc chi Clostridium khác cũng có khả năng cố định ni tơ phân tử. Đó là các loài C. butyricum. C. butylicum, C. beijerinckia, C. aceticum, C. multifermentans, C. pectinovorum,  C. acetobutylicum, C. felsineum.

Vai trò của nitơ đối với thực vật


Hàm lượng ni tơ (N) trong thành phần chất khô của thực vật thường dao  động từ 1-3%. Tuy hàm lượng trong cây thấp, nhưng N có ý nghĩa quan trọng bậc nhất đối với đời sống thực vật cũng như toàn bộ thế giới hữu cơ. 
Cây thiếu nito
Cây thiếu nito

Trong môi trường sống của thực vật, N tồn tại dưới 2 dạng:
- Khí N tự do trong khí quyển (N2) chiếm khoảng 79 % không khí (theo thể tích). Dạng này cây không thể sử dụng được.

-  Dạng các hợp chất ni tơ hữu cơ và vô cơ. N liên kết chủ yếu ở 3  dạng hợp chất:
+ Hợp chất N vô cơ trong các muối ammonium (NH4+), muối nitrate (NO3- )
+ Ni tơ hữu cơ của các protein ở dạng xác bã động vật, thực vật chưa phân giải hoàn toàn, ở dưới dạng mùn protein.
+ Các sản phẩm phân giải của protein như các acid amine, các peptid và các amine. 

Đề thi thử đại học môn sinh học 05 (có đáp án)


Đề thi thử đại học môn sinh học
  
THI THỬ ĐẠI HỌC – MÔN SINH HỌC
Thời gian làm bài : 90 phút
                                                               Số câu trắc nghiệm : 50

Câu 1: Nhân tố vô sinh đóng vai trò quan trọng đối với quần xã là:
A. Hoang mạc                                 C. Rừng lá ôn đới
B. Đồng rêu đới lạnh                       D. A và B đúng
Câu 2: Hiệu quả tác động của chọn lọc tự nhiên đối với các đột biến gen xảy ra chủ yếu ở mức nào?
A. Kiểu hình                  B. ADN                         C. Prôtêin                       D. Kiểu gen

Vai trò của một số nguyên tố vi lượng đối với cây


Cây xanh và vi lượng
 1. Vai trò của Đồng (Cu) đối với cây.
Cu tham gia vào thành phần của hệ enzyme oxydase. Thiếu Cu có liên quan đến dinh dưỡng N. Cu có tác dụng lớn đến quá trình tổng hợp protein, tham gia vào giai đoạn đầu của quá trình đồng hóa nitratee. Vai trò của Cu đối với tổng hợp protein có liên quan đến quá trình trao đổi acid nucleic (ARN giảm xuống khi thiếu Cu). Cu góp phần tích cực trong quá trình hình thành và bảo  đảm  độ bền của chlorophyll. Cu có  ảnh hưởng mạnh  đến quá trình chuyển hóa glucid, phosphatid, nucleoproteid, quá trình trao đổi vitamine, kích thích tố sinh trưởng. Lúc bón phân đạm nhất là NH4+ đòi hỏi Cu cũng tăng lên.

Ngoài việc chống lốp đổ, Cu còn tác dụng chống hạn, chống rét và tăng khả năng giữ nước của mô.
Nguồn phân Cu phổ biến là CuSO4. Cũng có thể sử dụng phế liệu sản xuất pyrid để bón cho cây.

Những chú hải âu rụt cổ dễ thương

Trong bài này, Blog sinh học online giới thiệu với các bạn hình ảnh những hình ảnh dễ thương và đáng yêu của những chú Hải âu rụt cổ cho những ai yêu thích loài chim này.

Loài hải âu rụt cổ có cái mỏ với màu sắc sặc sỡ trong mùa sinh sản, chúng sống ở Bắc Thái Bình Dương và Bắc Đại Tây Dương.

Tất cả các loài hải âu rụt cổ đều có bộ lông màu đen hoặc đen và trắng. Loài chim này vừa có thể bay trên cạn vừa có thể bơi dưới nước để bắt mồi.

Hải âu rụt cổ ăn những con cá nhỏ như cá trích, lươn cát.
Chim hải âu rụt cổ, ảnh đẹp chim hải âu rụt cổ

10 chú chó có khuôn mặt giống gấu trúc

Thoạt nhìn bạn có thể nghĩ chúng là chó hay gấu trúc? Hay là con lai chó và gấu trúc? :)
Blog sinh học online xin giới thiệu đến các bạn bộ sưu tầm 10 chú chó có bộ mặt giống gấu trúc, chúc các bạn vui.
Chú chó có bộ mặt giống gấu trúc

Vai trò của Boron đối với cây


Vai trò của Bo (Boron - B)
Cây xanh và các nguyên tố khoáng

- B là nhân tố phụ của nhiều hệ enzyme. Thiếu B, các  điểm sinh trưởng của thân, rễ, lá chết dần, vì B có vai trò lớn trong trao đổi glucid.

- Thiếu B thì trong lá tích lũy nhiều đường làm cho đỉnh sinh trưởng thiếu glucid sinh ra hiện tượng dư thừa NH3  vì glucid là chất nhận rất tốt của NH3. Gần  đây người ta cho rằng  điểm sinh trưởng chết vì trao  đổi acid nucleic bị đảo lộn.

Vai trò của nguyên tố vi lượng đối với cây


Nguyên tố vi lượng
Trong 74 nguyên tố hóa học tìm thấy trong cơ thể thực vật có 11 nguyên tố đa lượng (chiếm 99,95%), còn hơn 60 nguyên tố còn lại là các nguyên tố vi lượng và siêu vi lượng (chiếm 0,05%). Mặc dù vậy, các nguyên tố vi lượng vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng. 
Trong cơ thể các nguyên tố vi lượng có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Nhiều kim loại, trong đó có các nguyên tố vi lượng cần cho cây như:

- Bo, Mn, Zn, Cu, Fe, Mo, Co, ... đã được tìm thấy dưới dạng các phức hữu cơ-khoáng. Các phức hữu cơ - khoáng này có những tính chất cơ bản về mặt hoá học như: tính chất của các phức chất khác biệt với tính chất của các thành phần cấu tạo nên nó, phức chất có thể tham gia vào các phản ứng mà các thành phần của nó không thể tham gia được.
Hiện nay người ta đã nghiên cứu chi tiết về các phức chất của các nguyên tố vi lượng như B, Cu. Fe, Mo,...

Vai trò của natri và clo đối với cây


Cây- Na và Cl thường có lượng chứa tương đối lớn trong cây nhưng vai trò sinh lý của chúng hiện tại còn biết ít.  Na và Cl tạo nên áp suất thẩm thấu cao của dịch tế bào. 

- Bón Na có tác dụng trục K bị bám trên keo đất vào dịch đất làm cây dễ hấp thụ K.
Cl làm tăng tính chất linh động của các cation như Ca2+, do đó, thúc đẩy tốc độ xâm nhập của chúng vào tế bào.
Theo Gonsharic, Cl có ảnh hưởng rõ rệt đến chế độ nước (làm giảm thấp cường độ thoát hơi nước, tăng độ ngậm nước của lá), có ảnh hưởng đến dinh dưỡng khoáng, quá trình.quang hợp (pha sáng) và hô hấp

- Gần đây người ta thấy Cl là nhân tố kích thích một số hệ enzyme như tham gia vào sự quang phân ly nước giải phóng O2 trong quang hợp (Arnon, 1954).

Vai trò của sắt đối với cây


Biểu hiện của cây thiếu sắt
Biểu hiện của cây thiếu sắt
- Mặc dầu sắt không phải là thành phần cấu trúc của chlorophyll nhưng nó là tác nhân hỗ trợ hoặc là thành phần xây dựng của các hệ enzyme nhất là enzyme oxy hoá khử tham gia trong dây chuyền sinh tổng hợp sắc tố.

- Đóng góp trong quá trình chuyền điện tử, quá trình quang phân ly nước (phản ứng Hill), phosphoryl hóa quang hợp.

- Có vai trò quan trọng trong hô hấp, là thành phần bắt buộc của hàng loạt enzyme oxy hóa khử như hệ cytochrome, peroxydase, catalase.

Các hệ enzyme chứa sắt là thành phần quan trọng trong dây chuyền vận chuyển điện tử từ nguyên liệu hô hấp đến O2) khí trời.

Lúc sắt có nhiều trong môi trường cũng gây độc cho cây. Việc bón vôi, phân đạm và một số nguyên tố khác có thể hạn chế được tai hại đó. 

Vai trò của magie đối với cây

Trong cây Mg dới dạng ion Mg2+, là thành phần khá ổn định của cơ thể mặc  dầu hàm lượng không lớn lắm. Trong cây Mg ở 3 trạng thái: liên kết trong chất nguyên sinh, tham gia thành phần của phân tử diệp lục, hoặc ở dạng tự do hay ở dạng muối vô cơ có trong dịch bào. Mg trong cây có khoảng 20% dạng tự do còn lại là  ở dạng liên kết chặt với keo nguyên sinh. Mg trong chlorophyll khoảng 10% tổng số lượng Mg có trong cây.

biểu hiện của cây thiếu magie
Biểu hiện của cây thiếu magie

- Mg đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành nên cấu trúc tinh vi của chất sống. Các tiểu thể ribosome gắn với nhau nhờ Mg, Mg cũng có mặt trong pectin, do  đó  đóng góp vào việc hình thành vách tế bào. Mg cũng phát hiện có trong chất phytin.

- Mg là thành phần xây dựng nên chất hữu cơ (chloropyll là chất giữ vai trò quan trong trong quang hợp). Mg có trong chloropyll từ 30-80 mg/kg lá tươi. Đói Mg lá có sọc hay đốm vàng.

Vai trò của canxi đối với cây


Cây hút Ca  ở dạng cation của các muối khác nhau. Ca  ở thân, lá nhiều hơn là ở rễ và mô già nhiều hơn mô non. Ca tập trung nhiều trong vỏ tế bào ở dạng pectat Ca, một phần nằm trong chất nguyên sinh và dịch bào ở dạng muối oxalate Ca.

Ca ít tham gia vào việc xây dựng nên chất hữu cơ nhưng có tác  dụng quan trọng trong việc xây dựng cấu trúc tinh vi của tế bào sống. Nó là cầu nối trung gian giữa các thành phần hóa học của chất nguyên sinh.
Cây thiếu canxi

Do đó, Ca là nhân tố hình thành cấu trúc không gian ổn định của nhiều bào quan như ribosome, nhân, ty thể, lạp thể....

 Ca được phát hiện có ở màng nhân tế bào, chứng tỏ Ca có liên quan chặt chẽ đến sự phân chia tế bào. Ca còn có ở trong chromosome, như vậy có thể cùng với Mg, Ca  đã tham gia với tư cách là cầu nối ADN với protein của nhân tế bào.

Ca bảo đảm hình thành chất gian bào (pectat Ca) gắn các tế bào lại với nhau.  Ca còn có tác dụng điều tiết mạnh mẽ các quá trình sinh lý và trao đổi chất của tế bào, vì Ca ảnh hưởng đến trạng thái hóa lý của chất nguyên sinh, đến độ nhớt, tính thẩm thấu.

Vai trò của lưu huỳnh đối với cây

Thiếu lưu huỳnh ở cây

Vai trò cơ bản của hợp chất S là tham gia vào các quá trình năng lượng của cơ thể và là thành phần của nhiều chất có hoạt tính sinh học.

Trong đất S tồn tại ở nhiều dạng hữu cơ và vô cơ, nhưng dạng S vô cơ cây hút chủ yếu là SO42- (sulfate) - là dạng oxi hóa cao, tan trong dung dịch đất. Dạng SO2 và dạng khử H2S thì độc cho cây. Trong môi trường acid, sulfate bị giữ chặt trên keo đất và được giải phóng ra khỏi keo đất vào dung dịch đất trong môi trường kiềm và có ion trao đổi OH -. Vì vậy bón vôi làm tăng pH của đất, tạo điều kiện cho ion sulfate di động và rễ cây dễ dàng hút được.

Vai trò của kali đối với cây

Trong đất K tồn tại dưới dạng các muối tan trong nước, K trao đổi,  không trao đổi trong các silicate. K trao đổi rất quan trọng và thích hợp đối với thực vật. So với các nguyên tố khác, K có một hàm lượng lớn trong đất (65-75 T/ha trong lớp đất cày). K có nhiều trong đất đen, xám, nâu và có ít trong đất đỏ, than bùn. Trong cơ thể thực vật, K tồn tại dưới dạng muối như KCl, KHCO3, K2HPO4 hoặc các dạng muối của acid pyruvic, citric, oxalic... 

Biểu hiện thiếu kali ở cây lúa
Vai trò sinh lí của K chưa được biết một cách đầy đủ và rõ ràng. Đến nay người ta biết chắc chắn rằng: K rất dễ xâm nhập vào tế bào, làm tăng tính thấm của thành tế bào  đối với các chất khác. Do  đó K  ảnh hưởng  nhiều đến quá trình trao đổi chất theo các chiều hướng khác nhau. Có thể tóm tắt vai trò sinh lí của K như sau:

- K ảnh hưởng đến quá trình trao đổi carbonhydrate, thể hiện K làm tăng cường  độ quang hợp, tăng quá trình vận chuyển các hợp chất carbonhydrate trong cây. 

Ảnh đẹp và ngộ nghĩnh về mẹ và con voi

Voi là loài động vật có vú lớn nhất đang sống trên cạn ngày nay. Chúng là một trong những loài thông minh, đặc biệt những chú voi con thật ngộ nghĩnh, đáng yêu, đôi lúc chúng cũng như những đứa trẻ, có lúc bị vấp ngã hay có những hành động thật dễ thương đó là những bức hình mà Blog Sinh học Online muốn chia sẻ đến các bạn. 

Chúc các bạn có những giây phút giải trí thật vui vẻ. 

Hình ảnh những chú voi con dễ thương, ngộ nghĩnh, đáng yêu

Những cặp đôi hoàn hảo trong thiên nhiên

Thiên nhiên luôn cho ta những điều bất ngờ thú vị. Blog Sinh học Online xin mời các bạn cùng bình chọn cho những cặp đôi hoàn hảo trong thiên nhiên.
Những cặp đôi chim tuyệt đẹp

Vai trò của phốt pho (phosphor –P) đối với cây


vai trò của photpho với cây trồng
Cơ thể thực vật sử dụng P dưới dạng muối của acid phosphoric. Bản chất của sự biến đổi các hợp chất P trong cơ thể là các gốc acid tham gia vào thành phần một chất hữu cơ nhất định bằng quá trình phosphoryl hóa và sau đó truyền cho các chất khác (bằng cách phosphoryl hoá). Bằng con đường đó, cơ thể đã tạo thành tất cả các chất chứa P cần thiết cho sự sống. Các hợp chất P gặp trong cơ thể thực vật khác nhau về bản chất hoá học cũng như về chức năng sinh lí. Có thể chia làm 5 nhóm các hợp chất P như sau:

Vai trò của các nguyên tố khoáng đối với thực vật



Các nguyên tố khoáng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của thực vật:

a. Chất khoáng là thành phần xây dựng nên các chất hữu cơ cơ bản nhất của chất nguyên sinh, cấu trúc nên tế bào và cơ quan. Ngoài các nguyên tố đại lượng là những nguyên tố có vai trò chủ yếu trong việc tạo nên chất sống, có thể nói mọi chất khoáng đều ít nhiều có ở dạng liên kết trong các hợp chất hữu cơ bởi các liên kết hóa học hay hóa lý và có độ bền khác nhau. Ví dụ N, S là thành phần bắt buộc của protein; P, N có mặt trong acid nucleic, phospholipid; Mg và N cấu tạo nên chlorophyll. 

b. Nguyên tố khoáng tham gia vào quá trình điều chỉnh các hoạt động trao đổi chất, các hoạt  động sinh lý của cây. Vai trò  điều chỉnh của các nguyên tố khoáng thông qua:
- Chất khoáng có tác dụng  điều tiết một cách mạnh mẽ quá trình sống thông qua tác động đến các chi tiêu hóa lý hóa keo của chất nguyên sinh như  điện tích,  độ bền, khả năng ngậm nước,  độ phân tán,  độ nhớt v.v... của hệ keo. Nhìn chung, ion hóa trị 1 làm tăng độ trương của keo mạnh hơn ion hóa trị 2 và đặc biệt là ion hóa trị 3.
Vai trò nguyên tố khoáng đối với cây

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hút khoáng


Cơ chế hấp thụ khoáng ở rễ
1. Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh.
Sự  hấp  thu  các chất khoáng vào cây là một quá trình sinh lý phức tạp. Nó  phụ  thuộc  vào nhiều điều kiện khác nhau, trong đó điều kiện ngoại cảnh rất quan trọng.

 a. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hút khoáng
Nhiệt độ, đặc biệt là nhiệt độ của đất có ảnh hưởng rất lớn đến sự hút khoáng của rễ cây. Nhiệt độ ảnh hưởng đến cả hút khoáng chủ động và thụ động. Sự khuếch tán tự do bị  động của các chất khoáng phụ thuộc vào nhiệt  độ. Nhiệt  độ càng thấp thì tốc  độ khuếch tán các chất càng giảm. Nhiệt  độ thấp làm hô hấp rễ giảm và rễ thiếu năng lượng cho sự hút khoáng tích cực. 

Phân biệt cơ chế hút khoáng chủ động và thụ động


Cơ chế hút khoáng ở rễ
1. Cơ chế hấp thụ muối khoáng thụ động (bị động)
Theo cơ chế này rễ cây có thể hút các chất khoáng bằng các cơ chế mang tính chất thụ động dựa theo quá trình khuếch tán và thẩm thấu, quá trình hút bám trao đổi. Đây là quá trình mang tính chất vật lý đơn thuần.
Đặc trưng của cơ chế hút khoáng bị động là : 
- Quá trình xâm nhập chất khoáng không cần cung cấp năng lượng, không liên quan đến trao đổi chất và không có tính chọn lọc.
- Phụ thuộc vào sự chênh lệch nồng  độ ion trong và ngoài tế bào (gradient nồng độ) và hướng vận chuyển theo gradient nồng độ. 
- Chỉ vận chuyển các chất có thể hòa tan và có tính thấm  đối với màng.

2. Cơ chế hấp thụ muối khoáng chủ động
Quá trình hút chủ động các nguyên tố khoáng bởi hệ rễ có liên quan đến quá trình trao đổi chất của tế bào. Đây là quá trình chọn lọc và chủ động.

Sự vận chuyển tích cực (active transport) khác với sự vận chuyển bị động (passive transport) ở những đặc điểm sau: 
- Không phụ thuộc vào gradient nồng độ: có thể vận chuyển ngược gradient nồng độ.
- Cần sử dụng năng lượng và chất mang.
- Có thể vận chuyển các ion hay các chất không thấm hay thấm ít với màng lipoprotein.
- Có tính đặc hiệu cho từng loại tế bào và từng loại tế bào và từng chất. 

Công thức tính số thể lệch bội



a/ Các dạng :
-Thể khuyết (không) : 2n – 2 ; Thể khuyết kép : 2n – 2  - 2 .
-Thể một nhiễm: 2n – 1   ;  Thể một kép : 2n – 1 – 1 .
-Thể ba nhiễm: 2n + 1     ;  Thể ba kép : 2n + 1+ 1 .ba
-Thể bốn nhiễm: 2n + 2   ;  Thể bốn kép : 2n  + 2 + 2 .
 (n: Số cặp NST) .

DẠNG ĐỘT BIẾN
SỐ TRƯỜNG HỢP TƯƠNG ỨNG VỚI CÁC CẶP NST
Số dạng lệch bội đơn khác nhau
    Cn1 = n

Số dạng lệch bội kép khác nhau
   Cn2 = n(n – 1)/2

Có a  thể lệch bội khác nhau
   Ana = n!/(n –a)!


NST người bị hội chứng Đao

Công thức xác định tần số xuất hiện các tổ hợp gen khác nhau về nguồn gốc NST


NST

a. Tổng quát:
   Để giải các bài toán về nguồn gốc NST đối với loài sinh sản hữu tính, học sinh cần hiểu được bản chất của cặp NST tương đồng: một có nguồn gốc từ bố, một có nguồn gốc từ mẹ.
  Trong giảm phân tạo giao tử thì:
- Mỗi NST trong cặp tương đồng phân  li về một giao tử nên tạo 2 loại giao tử có nguồn gốc khác nhau ( bố hoặc mẹ ).
- Các cặp NST có sự phân li độc lập, tổ hợp tự do . Nếu gọi n là số cặp NST của tế bào thì:
* Số giao tử khác nhau về nguồn gốc NST được tạo nên = 2n .

Sinh học 12: Trả lời một số câu hỏi phần chọn giống


1. Nguyên nhân tạo ra biến dị tổ hợp là gì? Tại sao biến dị tổ hợp là quan trọng cho chọn giống vật nuôi, cây trồng?
- Nguyên nhân gây ra biến dị tổ hợp là:
+ Quá trình phát sinh giao tử.
+ Quá trình thụ tinh.
+ Hoán vị gen.
Chọn giống vật nuôi cây trồng

Hình ảnh những chú thỏ cực dễ thương

Thỏ là loài vật được nhiều người yêu mến vì vẻ bề ngoài vô cùng dễ thương và hiền lành của chúng. Blog Sinh học Online xin mời các bạn cùng xem những hình ảnh cực dễ thương của những bé thỏ này nhé.
Hình ảnh những chú thỏ dễ thương

Hình ảnh những chú sóc dễ thương và tinh nghịch

Những chú sóc thông minh và nghịch ngợm là những hình ảnh mà Blog Sinh học online muốn chia sẻ với các bạn trong tuần này. Những hình ảnh sóc dễ thương hi vọng giúp các bạn giảm mệt mỏi căng thẳng.
Chúc các bạn vui vẻ.
những chú sóc đáng yêu, ngộ nghĩnh và tinh nghịch

Phân biệt NST thường và NST giới tính

NST
Trong tế bào tồn tại hai loại NST là NST thường và NST giới tính, giữa hai loại này, có những điểm khác biệt về số lượng, sự tồn tại và chức năng. Blog sinh học Online xin giới thiệu đôi nét về sự kahsc nhau của NST thường và NST giới tính:

Phân biệt gen liên kết trên NST X - Y

Bệnh có túm lông ở  tai, hội chứng có túm lông tai,
Để giải được các bài toán lai sinh học, trước hết các bạn cần hiểu được bản chất của hiện tượng di truyền, các dấu hiệu để phân biệt gen trên NST thường, gen trên NST giới tính, gen trội, gen lặn, gen trên X, gen trên Y, phân biệt các quy luật di truyền... ở các bài trước, Blog sinh học Online đã giới thiệu đến các bạn cách nhận dạng các quy luật di truyền. Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu cách phân biệt quy luật di truyền do gen liên kết trên NST giới tính X và Y.

Gen trên NST X
Gen trên NST Y
Kết quả phép lai thuận nghịch khác nhau.
Không có phép lai thuận nghịch
Biểu hiện ở cả hai giới
Chỉ biểu hiện ở giới dị giao tử (XY)
Có thể xác định được trội lặn
Không xác định được trội lặn.
Tỉ lệ biểu hiện tính trạng lặn ở nam nhiều hơn nữ
Chỉ biểu hiện ở nam (người)
Di truyền chéo: mẹ truyền cho con trai, bố truyền cho con gái
di truyền thẳng theo dòng bố: ông nội --> con trai --> cháu trai…
Ví dụ: Bệnh mù máu, máu khó đông,
Ví dụ: Tật dính ngón tay 2 – 3, có túm lông ở tai

Ví dụ về diễn thế nguyên sinh


Diễn thế nguyên sinh, ví dụ về diễn thế nguyên sinh
Sự diễn thế của cây rừng ngập mặn (mangroves) ở vùng cửa sông nhiệt đới Nam Bộ cũng là một ví dụ sinh động cho loại diễn thế này. Ở cửa sông các bãi  bùn còn lùng nhùng, yếm khí... không thích hợp cho đời sống nhiều loài thực vật, duy có các loài bần trắng (Sonneratia alba), mắm trắng (Avicennia alba)...là những loài cây tiên phong đến bám trụ ở đây. Sự có mặt và phát triển của chúng làm cho nền đất được củng cố và tôn cao, đặc biệt ở giai đoạn trưởng thành, quần xã này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của các loài mắm lưỡi đòng (Avicennia officinalis), tiếp sau là đước  (Rhizophora mucronata), dà quánh (Ceriops decandra), xu vối (Xylocarpus granatum), vẹt khang (Burguiera sexangula), dây mủ (Gymnanthera nitida),... phát triển, hình thành nên một quần xã hỗn hợp rất ưu thế. Trong điều kiện đó, các cây tiên phong không cạnh tranh nổi phải tàn lụi và lại di chuyển ra ngoài. Đất ngày một cao và chặt lại, độ muối tăng dần... khi tiến ra biển. Điều đó làm cho quần xã rừng hỗn hợp trên cũng suy tàn ngay trên mảnh đất xâm lược sau một thời kỳ ổn định để rồi lại theo gót cây tiên phong chinh phục vùng đất mới. ở phía sau, điều kiện môi trường lại thích hợp cho sự cư trú và phát triển hưng thịnh của các nhóm thực vật khác như chà là (Phoenix paludosa), giá  (Excoecaria agallocha),  thiên lý biển (Finlaysonia maritima). .. Xa hơn nữa về phía lục địa là những thảm thực vật nước ngọt, đặc trưng cho vùng đất chua phèn.  

Quan hệ giữa quần xã sinh vật và môi trường


Mối quan hệ giữa quần xã sinh vật và môi trường.
Quần xã sinh vật sống trong môi trường không chỉ thích nghi với mọi biến đổi của các yếu tố môi trường một cách bị động mà còn phản ứng lại một cách tích cực theo hướng đồng hóa và cải tạo môi trường để sống tốt hơn. Do đó, giữa môi trường và quần xã sinh vật có mối liên quan chặt chẽ trên cơ sở tương tác lẫn nhau thông qua các “mối liên hệ ngược.”.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, một trong những đặc tính quan trọng của mối tương tác đó là tỷ lệ giữa số lượng sinh khối và “giá thể” hay sinh cảnh của quần xã . Tỷ lệ này càng nhỏ, trong điều kiện cân bằng ổn định thì tác động của quần xã lên sinh cảnh càng yếu và tính ổn định của môi trường hướng đến việc làm tăng độ bền vững của toàn hệ thống càng kém hiệu quả. 
Quần xã sinh vật trong lòng địa dương

Các thành phần của hệ sinh thái



Một hệ sinh thái điển hình được cấu trúc bao gồm:
- Sinh cảnh: Môi trường vô sinh bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất, các chất vô cơ, hữu cơ...
- Quần xã sinh vật: có 3 nhóm sinh vật là sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân giải.


Hệ sinh thái

Khái niệm hệ sinh thái

Hệ sinh thái như những đơn vị chức năng trong sinh giới, các hoạt động của nó nói riêng hay toàn bộ sinh quyển nói chung làm cho thế giới ngày nay ngày càng phát triển và trở nên ổn định vững chắc. Mọi cá thể, mọi quần thể và quần xã sinh vật, những thành viên sống cấu trúc nên hệ cũng được thừa hưởng những thành quả đó để phát triển và tiến hoá không ngừng. Con người,  đương nhiên cũng là một trong những thành viên không hơn, không kém. Nếu vì một lý do nào đó, con người sống quay lưng lại với các thành viên khác trong hệ, tất nhiên sẽ phải trả giá, nhiều khi rất đắt.
Hệ sinh thái

Cơ bảo vệ ADN trong tế bào sống


Trên phân  tử DNA có  thể xuất hiện nhiều biến đổi do sai hỏng  trong quá  trình  trao đổi chất, do các  tác nhân gây đột biến vật  lý và hóa học của môi trường. Tuy nhiên, genome luôn có độ ổn định cao nhờ các cơ chế sửa chữa và bảo vệ DNA. DNA là phân tử duy nhất, mà khi biến đổi hay bị phá hỏng vẫn có khả năng được sửa chữa nhờ tế bào. Các cơ chế sửa sai rất đa dạng và có hiệu quả cao. Ba quá trình bao gồm sửa sai, tái bản và tái tổ hợp DNA liên quan chặt chẽ với nhau. Đây cũng là một minh chứng về sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ chế di truyền. I. Khái quát về các cơ chế sửa sai Hầu hết các đột biến trên phân tử DNA thường được khắc phục bằng hai phương thức chính: 

- Sửa chữa phục hồi trực tiếp (direct reversal repair), hoặc:
- Cắt  bỏ  sai  hỏng  và  sửa  chữa  lại  bằng  cách  dùng  trình  tự  bổ  sung (damage excision and repair using complementary sequence). 

Sửa chữa trực tiếp thường liên quan đến hai loại sai hỏng trên phân tử DNA  do  tia  tử  ngoại  gây  ra  là:  cyclobutane-pyrimidine  dimer  (CPDs)  và pyrimidine (6-4) pyrimidone (6-4 PPs). Hai  loại sai hỏng này đều  làm biến dạng cấu trúc xoắn của DNA. CPDs và 6-4 PPs được nhận biết và sửa chữa nhờ enzyme photolyase. Enzyme này sử dụng năng lượng ánh sáng để thực hiện phản ứng  làm  thay đổi các  liên kết hóa học để nucleotide  trở  lại dạng bình  thường.  Phản  ứng  sửa  chữa DNA  bằng  photolyase  xảy  ra  trong  rất nhiều sinh vật prokaryote và eukaryote. Tuy nhiên, quá trình này không thấy ở động vật có vú. Ở người cũng chưa phát hiện được bất kỳ loại photolyase nào.
Đa số sai hỏng của DNA được sửa chữa bằng phương thức thứ hai. Cơ chế này phải sử dụng thông tin di truyền chứa ở một trong hai sợi đơn DNA.
Khi  trình  tự nucleotide  trên một sợi bị  thay đổi  thì sợi  thứ hai  (liên kết bổ sung  với  sợi  thứ  nhất)  được  dùng  làm  khuôn mẫu  để  sửa  chữa  những  sai hỏng đó. Một số cơ chế sửa chữa như sau:

- Hệ thống sửa chữa nhận biết các trình tự DNA không thích hợp với các cặp base chuẩn và thay thế chúng.

- Hệ  thống sửa chữa-cắt bỏ (excision-repair system)  loại đi một đoạn DNA ở vị trí sai hỏng và sau đó thay thế nó.

- Hệ  thống  sửa  chữa-tái  tổ hợp  (recombinant-repair  system)  sử dụng phương thức tái tổ hợp để thay thế vùng sợi đôi bị sai hỏng.

Các hệ thống sửa chữa cũng phức tạp như bộ máy tái bản của nó, điều đó cho  thấy  tầm quan  trọng của chúng đối với  sự  sống của  tế bào. Khi hệ thống sửa chữa phục hồi một sai hỏng của DNA, thì không có một hậu quả xấu nào xảy ra. Nhưng một đột biến có thể tạo ra hậu quả xấu khi DNA bị hỏng. 
Cơ chế sửa sai adn

Hiện tượng allele giả


Theo quan niệm cổ điển gen là đơn vị tái tổ hợp. Nếu cá thể mang hai allele lặn a1/a2 của một dãy đa allele sẽ tạo thành hai loại giao tử là a1 và a2, lai phân tích với bố mẹ đồng hợp tử lặn sẽ chỉ cho kiểu hình đột biến a1 và a2 mà không có dạng tái tổ hợp hoang dại. Ví dụ: Tuy nhiên, nhiều  thí nghiệm cho  thấy nếu  tăng  số cá  thể  thí nghiệm lên 10.000 hoặc 100.000,  thì có  thể phát hiện có dạng kiểu hình hoang dại do tái tổ hợp.
hiện tượng alen giả

Lý thuyết trung tâm sinh học phân tử


Lý thuyết trung tâm của sinh học phân tử
Tổng hợp protein trong tế bào có các đặc điểm sau:
- Các  phân  tử  thông  tin  như  nucleic  acid  và  protein  được  tổng  hợp theo  khuôn. Tổng  hợp  theo  khuôn  vừa  chính  xác  vừa  ít  tốn  enzyme.  Tuy nhiên,  căn  cứ  vào  hàng  loạt  tính  chất  hóa  học  các  protein  không  thể  làm khuôn mẫu cho  sự  tổng hợp của chính chúng. Vì vậy, khuôn mẫu để  tổng hợp nên protein không phải là protein.
Lý thuyết trung tâm

- Sinh  tổng  hợp  protein  tách  rời  về  không  gian  với  chỗ  chứa DNA. Nhiều nghiên cứu cho thấy tổng hợp protein có thể xảy ra khi không có mặt DNA. Sự kiện này  thể hiện  rõ  ràng nhất ở những  tế bào eukaryote. Trong những  tế bào này, hầu như  toàn bộ DNA  tập  trung ở nhiễm  sắc  thể  trong nhân, còn tổng hợp protein chủ yếu diễn ra ở tế bào chất. Tảo xanh đơn bào Acetabularia khi bị cắt mất phần chứa nhân vẫn  tổng hợp được protein và sống vài tháng nhưng mất khả năng sinh sản. Rõ ràng, nơi chứa DNA mang thông  tin  di  truyền  và  chỗ  sinh  tổng  hợp  protein  tách  rời  nhau  về  không gian.

Sự biệt hóa tế bào

1. Các tế bào biệt hóa mang thông tin giống nhau
Ở  các  sinh vật bậc  cao  cũng như ở người,  cơ  thể  trưởng  thành  gồm nhiều  loại  tế bào khác nhau. Các  tế bào này đều bắt nguồn  từ một hợp  tử ban đầu, nhưng đã qua quá  trình biệt hóa  trở  thành các  tế bào có các chức năng khác nhau. Tuy nhiên, thực nghiệm xác định rằng số lượng nhiễm sắc thể,  số  lượng DNA và cả  tỷ  lệ  (A+T)/(G+C) của các  tế bào  thuộc các mô khác nhau của cùng một cơ thể đều giống nhau. Sử dụng kỹ thuật lai DNA cho thấy DNA từ những tế bào của các mô khác nhau của cùng một cơ thể không  bị  biến  đổi  trong  quá  trình  biệt  hóa,  chúng  có  thể  tự  hồi  tính (renaturation) với nhau.

Thí nghiệm ghép nhân  tế bào ruột ếch vào  tế bào  trứng bị hỏng nhân (do chiếu  tia  tử ngoại) cho  thấy 1%  tế bào ghép nhân phát  triển  thành ếch trưởng thành. Điều này chứng tỏ tế bào ruột tuy đã biệt hóa vẫn giữ nguyên vẹn thông tin di truyền để tạo ra ếch trưởng thành.

Tóm lại, số lượng DNA của các tế bào biệt hóa về căn bản giống với các hợp tử ban đầu và chứa nguyên vẹn thông tin di truyền đủ để phát triển thành cá thể nguyên vẹn.

2. Các tế bào biệt hóa tổng hợp các nhóm protein khác nhau
Để hiểu được sự khác nhau giữa các tế bào biệt hóa, cần xét nhiều vấn đề sau:
- Thứ nhất, nhiều quá trình là chung cho tất cả các tế bào nên có nhiều protein  giống nhau. Những protein này  gồm  số  lượng nhiều, dễ phân  tích như phần lớn các protein cấu trúc của thành tế bào và nhiễm sắc thể; một số protein  căn  bản  của  các  bào  quan  (lưới  nội  sinh  chất,  bộ máy Golgi,  các ribosome…). Nhiều protein có số lượng không nhiều như các enzyme khác nhau, tham gia vào các phản ứng trung tâm của quá trình trao đổi chất, đều hiện diện như nhau ở tất cả các kiểu tế bào.

-  Thứ  hai, một  số  protein  có  số  lượng  phong  phú  ở một  số  tế  bào chuyên  hóa  mà  việc  phát  hiện  chúng  cần  có  thử  nghiệm  riêng.  Ví  dụ, hemoglobin chỉ có thể phát hiện ở tế bào máu.

- Thứ ba, nếu như hơn 2.000 loại protein có số lượng dồi dào được so sánh giữa các kiểu  tế bào biệt hóa của cùng một vi sinh vật với nhau bằng điện di hai chiều polyacrylamide, thì một số khác biệt đáng kể sẽ được tìm thấy. Dù sự so sánh giữa hai dòng tế bào nuôi cấy (như các dòng tế bào cơ và  thần kinh) hay giữa các  tế bào của cùng một mô của chuột (như gan và phổi), đại đa số các protein được phát hiện đều được tổng hợp ở cả hai loại tế  bào  và  với  tốc  độ  tổng  hợp  có  thể  khác  nhau  đến  105;  chỉ  có  vài  trăm protein hiện diện với số lượng khác nhau đáng kể ở hai kiểu tế bào.

Các  nghiên  cứu  cho  thấy  các  tế  bào  eukaryote  bậc  cao  tổng  hợp  từ 10.000-20.000 protein khác nhau. Phần lớn chúng có số lượng rất ít và khó phát hiện. Nếu các protein hiếm (minor protein) này khác nhau giữa các  tế bào với mức độ tương tự các protein dồi dào, thì chỉ một số lượng nhỏ của chúng cũng đủ tạo nên nhiều khác biệt chuyên hóa lớn về hình thái và sinh lý của tế bào. 

Tế bào có thể thay đổi sự biểu hiện gen của chúng đáp lại tín hiệu bên ngoài.  Phần lớn các tế bào chuyên hóa của sinh vật đa bào có khả năng thay đổi phương thức biểu hiện của gen để đáp lại tác động bên ngoài. Ví dụ: nếu tế  bào  bị  tác  động  bởi  glucocorticoid  hormone,  thì  sự  tổng  hợp  một  số protein chuyên biệt được  tăng vọt (Hình 8.10). Glucocorticoid được phóng thích  ra  khi  bị  đói  bụng  hay  hoạt  động mạnh  và  báo  hiệu  cho  gan  tăng cường  tạo  glucose  từ  amino  acid  hay  các  phân  tử  nhỏ  khác  nhau.  Các protein, được tạo ra do các enzyme cảm ứng như tyrosine aminotransferase hỗ  trợ  biến  tyrosine  thành  glucose. Khi  hormone  không  còn  nữa,  sự  tổng hợp các protein này giảm xuống mức bình thường.

Cơ chế điều hòa hoạt động gen ở nhân thực


Các  cơ  chế  điều  hòa  ở  nhân thực  có  thể  xảy  ra  ở  5-6 mức  độ  khác nhau. Trong phần này chỉ nhấn mạnh  thêm một số đặc điểm của điều hòa hoạt động gen ở nhân thực:

-  Ở  các  operon  của  prokaryote,  các  gen  điều  hòa  và  các  gen khởi động thường nằm gần nhau, nhưng ở nhân thực các gen điều hòa  ít khi nằm gần các gen khởi động do chúng kiểm soát.

- Các enhancer  là những  trình  tự cùng nằm  trên một phân  tử với các gen khởi động có thể có hàng trăm cặp base ở phía trước hoặc phía sau gen khởi động mà chúng kích thích.

- Trình tự điều hòa 5’ ở phía trước có gen khởi động ở enhân thực thường rất dài, có khi hàng chục kilobase (kb).

- Có nhiều kiểu điều hòa ở dạng các nhân tố có tác động từ xa (trans) là các protein.
Sự  phiên mã  có  thể  được  kích  thích  bởi  các  tín  hiệu  khác  nhau. Sự điều hòa hoạt động gen ở nhân sơ phần  lớn đáp ứng  lại các  tín hiệu bên trong.

1. Các gen khởi động
Tương tự như ở vi khuẩn, các gen khởi động của nhân thực cùng nằm phía trước điểm xuất phát của mRNA và có những  trình  tự được bảo  tồn  trong tiến hóa. Hộp TATA, định hướng cho RNA polymerase bắt đầu phiên mã, nằm khoảng dưới 30 basepair (bp) ở động vật có vú, và 60-120 ở nấm men.

Hộp  TATA  hoạt  động  có  hiệu  quả  cùng  với  hai  trình  tự  tương  ứng  phía trước khoảng 40 bp là CCAAT và 110 bp là trình tự giàu GC.

Sự  thay đổi hộp TATA  làm giảm  tốc độ phiên mã. Hiệu quả của  tốc độ phiên mã được đo bằng  sự  thay đổi  của  từng base  trong gen khởi động,  các thay đổi base ngoài hộp TATA và  các  trình  tự phía  trước không gây hiệu quả đối với tốc độ phiên mã, trong khi đó các thay đổi ở những yếu tố được nêu  trên  làm  giảm  đáng  kể  tốc  độ  phiên  mã.  Khác  với  gen khởi động  của nhân sơ, các gen khởi động của nhân thực khó đảm bảo nhận biết các tín hiêu một cách đầy đủ để RNA polymerase khởi sự phiên mã in vitro. Hộp TATA và các  trình tự phía  trước phải được nhận biết bởi các protein điều hòa, và chính các protein này gắn với các điểm nhất định trên chúng và hoạt hóa sự phiên mã.

2. Các enhancer
Enhancer  là các  trình  tự có  tác động cis  (liền kề), chúng  tăng  tốc độ phiên mã đáng kể  từ các gen khởi động nằm ngay  trên cùng một phân  tử DNA. Tính độc đáo của các enhancer  là ở chỗ chúng có khả năng  thực hiện một cách hiệu quả khi ở một khoảng cách rất xa, có khi đến vài nghìn cặp base.

Ngoài  ra,  chúng  có  hoạt  động  chức  năng  ở  bất  kỳ  hướng  nào,  dù  ở  phía trước hay phía sau gen khởi động.

Xét trên một góc độ nào đó, các enhancer tương tự gen khởi động. Cụ thể, chúng được tổ chức gồm một dãy các trình tự có tác động cis để  nhận biết các nhân tố tác động từ xa (trans) (Hình 8.8).