Cấu tạo tuyến yên và các hoocmôn của tuyến yên

 I.  Đặc đỉêm giải phẫu 
   Tuyến yên là một tuyến nhỏ nằm ở mặt dưới đại não (nên còn gọi là tuyến mấu não dưới) trên xương yên (nên gọi là tuyến yên). Ở người có kích thước trung bình 1 cm x 1,5 cm x 0,5 cm, nặng 5 gam. Ở động vật khối lượng này thay đổi tuỳ loài và theo mùa. Ở người và gia súc trong thơì gian có chửa tuyến nở to ra.Tuyến yên có 3 thuỳ là thuỳ trước, thuỳ giữa và thuỳ sau. 

Đề thi thử đại học môn Sinh học 01 (Có đáp án)

Blog Sinh học Online xin giới thiệu đề thi thử Đại học Môn Sinh học. Hi vọng đề thi sẽ là tài liệu bổ ích cho các bạn chuẩn bị bước vào kì thi đại học. Đề thi này tập trung chủ yếu ở phần Di truyền học và theo đánh giá của chúng tôi thì đây là dạng đề dễ.

Các bạn yên tâm vì mỗi đề thi đều được chúng tôi kiểm duyệt và có chỉnh sửa một vài chi tiết cho hợp lí hơn trước khi đăng lên Blog Sinh học Online.

Nếu có bất kì thắc mắc hay góp ý gì, bạn hãy để lại nhận xét ở cuối bài viết, chúng tôi sẻ trả lời bạn sớm nhất.

Sau khi làm bài, nếu bạn muốn kiểm tra lại, hãy tải đáp án theo link ở cuối bài viết.

Chúc các bạn làm bài tốt!

Tuyến tụy và các hoocmôn tuyến tụy


I. Đặc điểm giải phẫu 
Trong tuyến tuỵ có một số tế bào hợp thành đám sáng nổi không rõ, không có ống tiết. Những đám tế bào  ấy, hợp thành đảo langerhan gọi là tuyến đảo tuỵ. Đảo tuỵ có kích thước từ 20 – 30 μ chiếm khoảng 1-3 % tổng khối lượng tuyến tuỵ. Tuyến đảo tuỵ được cung cấp nhiều mạch máu. Nó bao gồm nhiều loại tế bào. Trong đó có hai loại tế bào a và b tiết hormone thần kinh chi phối tuyến đảo tuỵ bao gồm cả thần kinh mê tẩu và giao cảm.

Cấu tạo và chức năng tuyến thượng thận

I.  Đặc điểm giải phẫu
         Tuyến thượng thận gồm hai tuyến nằm ở đầu trước hai quả thận. Tuyến chia làm hai miên: miền tuỷ và miền vỏ. Mỗi miền tiết ra các loại hormon khác nhau. Miền tuỷ thuộc loại mô ưa crôm, miền vỏ thuộc loại tổ chức gian thận. Miền tuỷ chịu sự chi phối trực tiếp của thần kinh giao cảm. Những sợi giao cảm sau khi vào tuyến thì tạo thành bó thần kinh dày đặc ở dưới màng của miền tuỷ. Mỗi một sợi chi phối một số lượng tế bào ưa crôm nhất định. Sự chi phối thần kinh đối với miền tuỷ biến miền tuỷ thượng thận như là một hạch giao cảm lớn. Những sợi giao cảm vào miền tuỷ là sợi trước hạch.
         Miền vỏ chia làm 3 lớp và tính từ ngoài vào trong là các lớp cầu, dậu, lưới và mỗi lớp tiết ra các loại hormon khác nhau.

Cấu tạo và chức năng tuyến cận giáp trạng

1. Đặc điểm giải phẫu 

       Tuyến cận giáp trạng có 4 tuyến hình quả xoan hay hình tròn. Ở người nó dài khoảng 6-7 mm, rộng 4-5 mm, dày 1,5-2 mm nằm lẫn sâu trong tuyến giáp, trừ cá xương cứng ra, đại đa số động vật đều có tuyến cận giáp gồm 4 tuyến độc lập đeo dính vào tuyến giáp và có 2 ở mặt ngoài, 2 ở mặt trong. Ở ngựa và loài nhai lại thì hai tuyến ngoài liên hợp làm một với tuyến ức, còn hai tuyến trong thì dựa dính vào tuyến giáp. Ở lợn không tìm thấy tuyến cận giáp trạng.

2 Chức năng sinh lý 

Cấu tạo và chức năng tuyến giáp


   Hệ thống các tuyến nội tiết trong cơ thể bao gồm: tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến
cận giáp trạng, tuyến tuỵ, tuyến thượng thận, tuyến sinh sản, tuyến ức, tuyến tùng. Những
nghiên cứu gần đây còn cho thấy các mô nội tiết cư trú ở các cơ quan cũng có chức năng
nội tiết như dạ dày mô nội tiết tiết gastrin, lớp nội mạc tử cung có mô nội tiết sản xuất ra
prostaglanding F2α v.v.

Tuyến giáp trạng 

Cơ chế tác dụng của hoocmôn


  Trước những năm 1960, cơ chế tác động của hormon chưa được phát hiện một cách rõ ràng. Người ta chỉ mới nêu được những đường  hướng tác dụng của chúng và tựu trung lại có 5 hướng sau:

- Điều hoà trao đổi chất 
Thí dụ: Adrenaline làm tăng đường huyết, iusuline làm giảm đường huyết, paratyroxine  làm tăng can xi và giảm phốt pho huyết.

Dậy thì và mãn kinh


1 Dậy thì
 Quá trình tăng trưởng và phát triển có một giai đoạn phát triển mạnh về hình dáng người và những biến đổi sâu sắc về hoạt động chức năng nội tiết và cơ quan sinh dục cũng như tuyến vú. Đồng thời kèm theo những thay đổi về tâm lý, từ tâm lý thiếu nhi sang thiếu niên hay thiếu nữ, tính tình trầm lặng và mơ mộng hơn.

  Ở trẻ trai, mốc để đánh dấu tuổi dậy thì bắt đầu đó là thể tích tinh hoàn tăng trên 4ml, còn mốc để đánh dấu thời điểm dậy thì hoàn toàn đó là lần xuất tinh đầu tiên. Tuổi dậy thì hoàn toàn của nam vào khoảng từ14-16 tuổi (trẻ em Việt Nam).

Quá trình sinh con (đẻ con)


Khi đủ thời gian mang thai, người mẹ và động vật cái thực hiện động tác đẻ, đó là quá trình đẩy thai ra khỏi tử cung. Sinh đẻ bắt đầu bằng hàng loạt sự co bóp của tử cung. Sự co bóp này tăng dần lên về cường độ và tần số, làm cho cổ tử cung mở rộng đường kính đến 10 cm. Có thể chia động tác đẻ làm 3 giai đoạn:

 - Giai đoạn 1 (kéo dài khoảng 12 giờ) thai chuyển tới phần cổ tử cung, màng ối vỡ do nước ối chảy ra làm trơn âm đạo.

 - Giai đoạn 2 (kéo dài khoảng 20 phút đến 1 giờ) cổ tử cung mở rộng, cơ tử cung và cơ thành bụng phối hợp co bóp mạnh dồn thai ra ngoài. Cuống rốn của thai được thắt lại và cắt rời khỏi nhau thai.

Sự thụ tinh và quá trình phát triển phôi

1. Sự thụ tinh
Thụ tinh là quá trình hoà hợp làm một của tinh trùng và trứng vốn chưa có khả năng phân chia, thành hợp tử, có khả năng phân chia nhiều lần liên tiếp để tạo thành cơ thể mới. Sự thụ tinh có thể xảy ra ngoài cơ thể (thường thì trong môi trường nước, như đối với cá và phần lớn động vật ở nước) hoặc trong cơ quan sinh dục cái (thụ tinh trong) nhờ hiện tượng giao hợp. Tuy nhiên về thực chất, thụ tinh trong hay ngoài vẫn giống nhau.

Chu kì kinh nguyệt


Chu kỳ kinh nguyệt là sự chảy máu của tử cung một cách có chu kỳ ở người và loài linh
trưởng. Ở động vật có vú khác không có chu kỳ kinh nguyệt nhưng có chu kỳ động dục,
nghĩa là không có sự chảy máu của tử cung, nhưng vẫn có những biến đổi ở tử cung, âm
đạo và hành vi sinh dục. Vào giai đoạn động dục, vật cái mới chịu đực (chịu giao phối).
Chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ trung bình là 28 ngày, nhưng có phụ nữ có chu kỳ kinh
nguyệt dài hơn. Chu kỳ kinh nguyệt có 3 giai đoạn:
Chu kì kinh nguyệt

Cấu tạo và sinh lí cơ quan sinh dục nữ


1. Cấu tạo hệ sinh dục cái gồm hai phần: Phần trong có hai buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (dạ con) và âm đạo. Phần bên ngoài có âm hộ, âm vật, môi lớn, môi bé và các tuyến sinh dục phụ.


a. Buồng trứng 
 Buồng trứng là một đôi tuyến hình bầu dục, mỗi buồng trứng trung bình nặng 5 -6g, nằm trong hố chậu giữa hai xương cánh chậu và được cố định bởi các dây chằng.Ở tuần thứ 30 ủa thai nhi, cả hai buồng trứng có khoảng 6.000.000 nang trứng nguyên thuỷ. Sau đó phần lớn chúng bị thoái hoá để chỉ còn lại khoảng 2.000.000 nang vào lúc mới sinh và đến tuổi dậy thì chỉ còn lại khoảng 300.000 - 400.000 nang.
Cấu tạo hệ sinh dục nữ

Cấu tạo và sinh lí cơ quan sinh dục nam


Cơ quan sinh dục đực gồm hai tinh hoàn, hai mào tinh hoàn, các ống dẫn tinh, các tuyến sinh dục, các tuyến sinh dục phụ và dương vật.
1. Cấu tạo hệ sinh dục đực


a. Tinh hoàn và mào tinh hoàn 
 - Tinh hoàn là một  đôi tuyến hình trứng nằm trong bìu nặng chừng 25-30g vừa làm nhiệm vụ sản xuất tinh trùng, vừa thực hiện chức năng của tuyến nội tiết. Tinh hoàn gồm một số lượng lớn các ống sinh tinh uốn khúc nằm trong các ô được phân cách bởi các vách ngăn bằng mô liên kết. Các ống sinh tinh có chức năng sản sinh tinh trùng.
Cơ quan sinh dục đực

Cấu tạo hệ sinh dục


Hệ sinh dục ở những loài khác nhau, cấu tạo cũng khác nhau. Tuy nhiên, sơ đồ chung về căn bản vẫn giống nhau và hệ sinh dục đều kết hợp chặt chẽ với hệ niệu thành phức hệ niệu - sinh dục. Cơ quan đực gồm chủ yếu tinh hoàn, nơi chế tạo tinh trùng và ống dẫn tinh. Tinh trùng được phóng thích vào trong tinh dịch và theo ống dẫn ra ngoài. Đối với động vật thụ tinh trong, còn có một số bộ phận phụ, tạo điều kiện dễ dàng cho sự vận chuyển tinh vào cơ quan cái.

Sinh sản và ý nghĩa của sinh sản



1. Ý nghĩa của sự sinh sản

a. Ý nghĩa sinh học của sinh sản
 Một trong những thuộc tính đặc trưng nhất của các hệ thống sống là khả năng sinh sản. Để đảm bảo sự tồn tại của loài, mọi sinh vật đều cố gắng tạo những cá thể mới giống mình, để thay thế các cá thể chết do tai nạn, bệnh tật, già cỗi hoặc do bị động vật khác ăn thịt. Tuy quá trình sinh sản khác nhau ở những loài khác nhau nhưng nói chung chỉ gồm hai dạng chủ yếu. Sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính.

Cấu tạo và chức năng da


1. Cấu tạo chung
 Ở người trưởng thành, tổng diện tích da khoảng 1,5 - 2m2,  độ dày thay đổi từ 0,5mm – 3mm tuỳ vị trí khác nhau trên cơ thể, ở gót chân da dày nhất. Da được cấu tạo gồm 3 lớp: lớp biểu bì, lớp da chính thức và lớp dưới da. Ngoài ra còn có các cấu trúc đặc biệt dẫn xuất từ da.

Các chức năng của thận

Sự điều hoà nội dịch (dịch thể bên trong cơ thể) nhằm đảm bảo cho  thể tích  và các chất hoà tan trong đó luôn hằng định. Vì vậy, điều hoà nội dịch chính là sự kiểm tra khối lượng nước và muối khoáng được cơ thể thu nhận và thải ra hàng ngày. Ở động vật bậc cao (thú) và người điều hoà khối lượng H2O và muối khoáng được thực hiện chủ yếu qua quá trình tạo nước tiểu và thành phần các chất hoà tan trong nước tiểu, nghĩa là thông qua chức năng lọc, tái hấp thu và bài tiết của thận.

Nước tiểu và thành phần nước tiểu

1. Thành phần nước tiểu
Lượng nước tiểu trong ngày thay  đổi theo loài, ví dụ ở  người là 1- 2 l, ngựa 2 – 5 l, ở bò 6 – 12 l, lợn 2 – 4 l. Lượng nước tiểu được hình thành cũng thay đổi theo ngày, ban đêm ít hơn. Thành phần thức ăn và lượng nước uống cũng làm thay  đổi lượng nước tiểu. 


Nước tiểu gồm các thành phần chủ yếu: H2O chiếm khoảng 93 – 95%, Vật chất khô khoảng 5%. 

Cấu tạo thận và quá trình lọc máu ở thận


1. Cấu tạo thận
Ở  người và động vật bậc cao, hai quả thận hình hạt đậu dài khoảng 10 –12cm, rộng 5 – 7cm, dày 3 – 4cm, nặng 100 – 120 gam. Hai quả thận  nằm sát phía lưng của thành khoang bụng, hai bên cột sống (từ đốt ngực XII đến đốt thắt lưng I – II). Thận phải nhỏ hơn và nằm thấp hơn thận trái khoảng 1 đốt sống. Thận được giữ chắc trong bụng nhờ hệ thống cân vùng thận (lớp cân gồm 2 lá bọc thận). Rốn thận là chính giữa bờ cong phía trong, nơi đó có mạch máu đến và đi ra khỏi thận, có ống niệu, có dây thần kinh. Bổ dọc một quả thận ta thấy bên trong gồm hai phần: phần chính giữa là bể thận có chứa mô mỡ, các mạch máu và dây thần kinh, phần xung quanh đặc gồm hai lớp, bên ngoài là lớp vỏ đỏ xẫm do có nhiều mao mạch và các cấu trúc dạng hạt là cầu thận. Lớp tuỷ ở trong màu nhạt là lớp hình tháp của thận (hình 7.1).

Vai trò và sự phát triển của da

Da người lớn có diện tích bề mặt khoảng 2m2. Da bảo vệ cho các mô ở bên dưới.


Da sinh ra vitamin D để che chắn cho cơ thể khỏi bức xạ tia cực tím có hại. 

Da và các tuyến mồ hôi ở da tham gia vào quá trình bài tiết H2O và một số sản phẩm của quá trình trao  đổi chất. Da điều hoà thân nhiệt nhờ hệ mạch ở da. 

Chức năng và sự phát triển của thận


Bài tiết là quá trình đào thải các chất cặn bã, các chất thừa… ra khỏi cơ thể, giúp cho cơ thể không bị nhiễm độc và cân bằng nội môi được giữ vững. Có nhiều cơ quan tham gia vào chức năng bài tiết như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, da, thận…Trong chương này chủ yếu đề cập chức năng bài tiết của da và thận.

Quá trình phát triển của thận
Thận là cơ quan lọc máu để tạo nước tiểu và bài tiết nước tiểu, nhờ đó cân bằng được nội môi trong cơ thể.
Thận được hình thành từ lá trung bì. Trong quá trình phát triển chủng loại và cá thể thận phát triển qua 3 giai đoạn:

Thân nhiệt và điều hòa thân nhiệt


Nhiệt độ của cơ thể là kết quả của hai quá trình đối lập: quá trình sinh nhiệt và quá trình thải nhiệt.    Hai quá trình đó là chung cho tất cả các loài sinh vật, nhưng điều hòa nhiệt độ cho luôn luôn hằng định là một tính chất riêng của một số động vật. Nghiên cứu điều nhiệt có một giá trị đặc biệt ở chỗ, điều nhiệt là một trong những bước tiến hóa của các loài vật.Trong khi sự điều hòa hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa là chung cho tất cả các động vật có xương sống, thì thải nhiệt và sản nhiệt để giữ mức hằng định của nhiệt độ, chỉ có diễn ra ở loài chim và loài có vú. Những động vật đó là loài đồng nhiệt, tất cả các loài vật khác đều thuộc về loài biến nhiệt.

Quá trình chuyển hóa năng lượng


Chuyển hoá năng lượng
   Chuyển hoá năng lượng là quá trình biến đổi năng lượng sinh ra thành các dạng năng lượng khác nhau cần thiết cho sự sống.Trong quá trình biến đổi, năng lượng không sinh ra thêm, cũng không mất đi mà chỉ chuyển từ  dạng này sang dạng khác. Trong cơ thể, năng lượng sinh ra là do thiêu đốt vật chất từ thức ăn. Năng lượng được dự trữ ở dạng hợp chất giàu năng lượng (ATP). Năng lượng tiêu hao dù ở bất cứ dạng nào nhưng cuối cùng đều thải ra ngoài cơ thể dưới dạng nhiệt. Do đó, muốn nghiên cứu chuyển hoá năng lượng, hoặc muốn biết nhu cầu năng lượng của cơ thể ta có thể dựa vào việc đo tính nhiệt lượng của cơ thể toả ra.

Vitamin và vai trò của vitamin


Một trong những thành tựu lớn nhất của hóa sinh ở thời đại chúng ta là sự khám phá ra vitamin và tiếp tục nghiên cứu tính chất của chúng. Vitamin là những hợp chất hóa học tương đối đơn giản, có trong thức ăn với liều lượng nhỏ, không thể dùng làm nguồn năng lượng nhưng cần thiết tuyệt đối cho đời sống, không tổng hợp được trong cơ thể. Các loài khác nhau có khả năng tổng hợp các vitamin khác nhau.

Chuyển hóa nước và muối khoáng


Sự chuyển hoá nước và các muối khoáng là hai quá trình liên hệ mật thiết và quan trọng đối với cơ thể.
1. Chuyển hoá các muối khoáng

  Vai trò của chất khoáng trong cơ thể rất đa dạng, chủ yếu:
Giữ vai trò quan trọng trong các quá trình tạo hình đặc biệt là tổ chức xương, xây dựng enzyme, kích thích tố. Duy trì cân bằng toan - kiềm, duy trì ổn định thành phần các dịch thể và điều hòa áp lực thẩm thấu. Tham gia chức phận các tuyến nội tiết và nhiều quá trình trao đổi chất. Điều hòa chuyển hóa muối - nước. Cần thiết cho hoạt động thần kinh, quá trình đông máu, hấp thu thức ăn, trao đổi khí, các quá trình bài tiết và bài xuất. Bản thân các chất khoáng không sinh năng lượng.

 Trong cơ thể có rất nhiều dạng muối khoáng: Ca, P, Mg, Na, K, Cl, Fe, S, I, Cu, Mn, Co, F, Zn... khoảng 40 nguyên tố hóa học.

Quá trình chuyển hóa prôtêin


1.Chuyển hoá các axit amin trong cơ thể (hình 6.3)
 Cơ thể không hấp thu được protid nếu chưa được phân huỷ qua ống tiêu hoá. Acid amin và phần nhỏ olygopeptid được hấp thu sẽ theo máu tĩnh mạch cửa vào gan, ở đây chúng được sử dụng ngay hoặc tạm thời coi như chất dự trữ. Sau đó một phần chuyển vào máu đi tới các tế bào khác, ở đó axit amin sẽ tạo thành chất nguyên sinh mới. Năng lượng cần cho sự tổng hợp do ATP cung cấp. Sự tổng hợp protid ở các tế bào tiến hành liên tục trong suốt đời sống của sinh vật. Trong giai đoạn cơ thể đang lớn (ở nhi đồng và thiếu nhi, gia súc non) sự tổng hợp protid diễn ra rất mạnh, càng về già tổng hợp protid càng giảm.  

Video cuộc sống loài rắn

Rắn là loài khiến cho con người khiếp sợ và lảng tránh. Rắn phân bố rộng rãi trên trái đất từ trên cạn, dưới nước, dưới biển, sa mạc...

Cùng Blog Sinh học Online khám phá cuộc sống của những loài vật này. 

Video: Cuộc sống của loài kiến

Kiến - những sinh vật vô cùng nhỏ bé những chiếm số lượng rất lớn trên trải đất. Chúng nổi tiếng là loài cần mẫn. Cuộc sống của loài kiến có tính xã hội cao, mỗi tập đoàn có thể lên tới hàng triệu con. Mời các bạn cùng Blog Sinh học Online xem đoạn video về cuộc sống loài kiến. 

Video: Cuộc sống của loài ong mật

Ong mật là loài ong vô cùng nhỏ bé nhưng có vai trò vô cùng quan trọng trong thiên nhiên cũng như đối với đời sống con người. Chúng có vai trò thụ phấn cho nhiều loài cây do vậy nguồn cung thưc phẩm của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào loài ong bé nhỏ này. 

Hãy cùng theo dõi đoạn video để biết rõ hơn đời sống, vai trò và những nguy cơ mà loài ong bé nhỏ này đang phải đối mặt. 

Video: Cuộc sống của loài cá voi sát thủ

Cá voi sát thủ hay còn gọi là cá Kình hay cá Hổ kình, chúng thuộc động vật có vú sinh sống ở biển, chúng được gọi là cá voi nhưng chúng lại thuộc họ cá heo và là loài lớn nhất và cũng là loài cá heo săn mồi dữ nhất. 
Cá voi sát thủ có màu đen ở phần lớn bộ phận cơ thể, một số mảng vá màu trắng ở ngực, bụng, hai bên hông,... chúng sử dụng sóng âm để săn mồi.


Blog sinh học Online xin giới thiệu tới các bạn phim về cuộc sống của loài cá heo sát thủ để cùng tìm hiểu cuộc sống của loài săn mồi hung dữ và thông minh này nhé.

Video: Sự phát triển của cá sấu và báo

Cá sâu và báo là những loài động vật săn mồi hùng mạnh, tuy nhiên lúc còn nhỏ chúng lại là con mồi cho nhiều loài vật ăn thịt khác, để tồn tại và phát triển thành những con trưởng thành săn mồi hùng mạnh, chúng đã tồn tại như thế nào? 
Mời các bạn cùng Blog Sinh học Online xem đoạn video về sự phát triển của cá sấu và báo con.

Video: Quá trình tiến hóa của động vật

Trong lịch sử phát sinh và phát triển của sinh vật, số lượng loài đã bị diệt vong còn nhiều hơn nhiều lần số loài hiện đnag tồn tại. Trong quá trình tiến hóa, chỉ những kẻ thích nghi nhất mới tồn tại và phát triển. Cuộc chiến sinh tồn của muôn loài có nhiều điều thú vị để chúng ta cùng khám phá.
Blog sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn đoạn video về Quá trình tiến hóa. Đây là đoạn video về khoa học nhưng rất hay và thú vị. Xin mời các bạn cùng xem. 

Quá trình chuyển hóa lipit



1. Chuyển hoá lipit trong cơ thể (hình 6.2)

Nguồn lipid (mỡ) của cơ thể là lipit của thức ăn hấp thu ở ruột, ngoài ra còn một lượng lớn lipit và lipoid được tạo thành ngay trong cơ thể từ gluxit nếu thừa gluxit, hoặc có khi cả từ protid. Lipit sau khi hấp thu có thể theo nhiều con đường:

-  Lipit được oxy hoá hoàn toàn cho CO2, H2O và nhiều năng lượng. Acetat hoạt động (Acetyl CoA) là một chất chuyển hoá trung gian của mỡ có thể dùng tổng hợp nhiều chất.

Quá trình chuyển hóa gluxit


Chuyển hoá gluxit 

1. Chuyển hoá gluxit trong cơ thể (hình 6.1)
Trong cơ thể, nồng độ glucose trong máu không đổi 0,1 - 0,12g%. Sau khi được hấp thu ở ruột, các monosaccharide theo máu đến các tổ chức để được tổng hợp thành glycogen cần cho sự xây dựng nguyên sinh chất. Kho dự trữ glycogen chủ yếu là gan và cơ, ở gan dự trữ 82% glycogen của cơ thể. 

       - Gluxit là nguồn năng lượng chủ yếu cơ thể dùng để sinh hoạt và sản xuất công. Một phần lớn protid và lipid trước khi bị phân huỷ hoàn toàn thường biến thành gluxit trong cơ. Ngoài ra sản phẩm phân huỷ của protid và lipid từ ống tiêu hoá sẽ đến gan và biến thành glycogen. Trao đổi gluxit ảnh hưởng lớn đến trao đổi protid, lipid và nước.

Vai trò chuyển hóa vật chất và năng lượng


Vai trò của chuyển hoá vật chất và năng lượng

 Chuyển hoá vật chất là tổng hợp của hai quá trình đồng hoá và dị hoá:
 Sự đồng hoá: Các thức ăn lấy ở môi trường ngoài vào thường phải biến đổi tương đối phức tạp mới thành chất riêng của tế bào.Tất cả quá trình biến đổi từ chất đơn giản được máu đưa tới tế bào thành những chất hữu cơ phức tạp gọi là sự đồng hoá. Trong quá trình này tế bào phát triển và tích trữ thêm năng lượng.

Ảnh đẹp về kì nhông

Blog Sinh học online xin giới thiệu bộ sưu tầm hình ảnh các loài kì nhông chọn lọc. 


ảnh đẹp các loài động vật, ảnh đẹp thằn lằn, ảnh đẹp thạch sùng, anmhr đẹp kì nhông, hình ảnh bò sát đẹp, ảnh đẹp, ảnh đẹp thiên nhiên chọn lọc, hình ảnh các loài động vật,

Sự tiêu hóa ở ruột già


Sự tiêu hoá ở ruột già
1. Cấu tạo
Ruột già là đoạn cuối cùng của ống tiêu hoá, ngắn hơn ruột non nhưng tiết diện lại lớn hơn. ở người ruột già dài khoảng 1,5 - 2m và được chia ra làm 3 phần :manh tràng, kết tràng và trực tràng.  
Ruột non thông với ruột già tại ranh giới giữa manh tràng và kết tràng. Giữa ruột non và ruột già có van hồi - manh giữ không cho các chất ở ruột già rơi ngược trở lại ruột non (hình 5.13). 

Hấp thụ các chất ở ruột


 Sự hấp thu ở ruột non 
 Sự hấp thu là sự thu nhận thức ăn đã bị tiêu hoá vào trong máu hay bạch huyết qua một hay nhiều lớp tế bào của ống tiêu hoá. Các đoạn của ống tiêu hoá đều có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhưng tác dụng hấp thu chủ yếu và quan trọng nhất là
của ruột non.

−  Niêm mạc miệng và thực quản có khả năng hấp thu yếu ớt đối với một số chất như các thuốc morphine, chất độc như cyanide.

−  Niêm mạc dạ dày có thể hấp thu một phần nào các chất nước, các muối đơn giản, glucose, và hấp thu được rượu.

Tiêu hóa ở ruột non

 Tiêu hoá ở ruột non
  Ở ruột non, thức ăn được nhào trộn với dịch tụy, mật và dịch ruột. Sự tiêu hoá thức ăn bắt đầu ở miệng và dạ dày sẽ được hoàn tất trong lòng ruột và trong các tế bào niêm mạc ruột non. Sau đó các sản phẩm tiêu hoá được hấp thu cùng với các vitamin, các chất điện giải và nước.

I. Cấu tạo 
Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ở người sống, ruột non dài 280cm, trong đó tá tràng dài 22cm, hỗng tràng và hồi tràng dài 258cm (hỗng tràng chiếm 2/5). Đoạn đầu của tá tràng gọi là hành tá tràng.

Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết đơn độc, nhưng ở hồi tràng , các hạch bạch huyết tụ tập lại thành từng đám gọi là các màng Peyer. Trên toàn bộ ruột non có nhiều tuyến ruột hình ống, gọi là hõm Lieberkuhn (hình 5.10). Riêng ở tá tràng còn có thêm những tuyến tá tràng hình ống nang cuộn lại gọi là tuyến Brunner.  Thành  ruột non được cấu tạo bởi 2 lớp cơ trơn: cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong. Lớp trong cùng là niêm mạc ruột. Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp hình van. Bản thân niêm mạc được bao phủ bằng những nhung mao (mao trạng). Mỗi mm2 niêm mạc có khoảng 20 đến 40 nhung mao.

Cấu tạo và hoạt động tiêu hóa ở dạ dày thú nhai lại


Tiêu hoá ở dạ dày động vật nhai lại (dạ dày 4 túi)

I. Cấu tạo dạ dày động vật nhai lại
Ở động vật nhai lại (động vật ăn cỏ) dạ dày có cấu tạo gồm 4 ngăn (4 túi) là dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế. Ba túi trước được gọi là dạ dày trước tiêu hoá chủ yếu nhờ hệ vi sinh vật dạ cỏ, còn dạ múi khế có chức năng tiêu hoá hoá học tương tự như  ở dạ dày đơn. Cấu tạo dạ dày 4 túi như hình 5.7.

Tiêu hóa ở dạ dày đơn


1 Cấu tạo
Dạ dày đơn là khúc phình của bộ máy tiêu hoá, thông với thực quản qua tâm vị và với tá tràng qua môn vị. Dung tích khoảng 1-2 lít, lúc đói rộng khoảng 10cm, cao 20cm (Hình 5.3A).
Thần kinh chỉ huy sự co bóp của dạ dày gồm 2 dây thần kinh số X chạy dọc hai bờ cong dạ dày.
Tuyến của dạ dày gồm 4 loại tế bào (Hình 5.4):
+ Tế bào chính: sản xuất enzyme pepsinogen và các enzyme khác.
+ Tế bào bờ (viền, thành) sản xuất HCl và nội yếu tố cần cho hấp thu B12.
+ Tuyến hậu vị: tiết chất nhày, vị tố gastrin.
+ Tế bào niêm dịch: tiết chất nhày.

Tiêu hóa ở khoang miệng và thực quản


Tiêu hoá ở khoang miệng và thực quản
Khoang miệng là đoạn mở đầu của ống tiêu hoá, nơi tiếp nhận các dạng vật chất từ môi trường ngoài. Giới hạn của khoang miệng ở phía trước là hai môi, phía sau là hầu (họng), phía trên là vòm khẩu cái, phía dưới là nền miệng cùng với lưỡi và hai bên là má.

1. Cấu tạo 
Trong miệng có các cấu tạo chính là răng cắm chặt vào hàm trên và hàm dưới, lưỡi và các tuyến nước bọt gồm ba đôi: dưới hàm, dưới lưỡi và đôi tuyến mang tai.

a. Răng
Từ lúc trẻ em mọc răng (khoảng tháng thứ 6-7 sau khi sinh) đến lúc thay răng (răng sữa) ở lứa tuổi 7-8, mỗi nửa hàm trên và dưới có 5 răng theo công thức i 2/2 c 1/1 p 0/0m2/2 (trong đó i là răng cửa, c là răng nanh, p là răng tiền hàm, m là răng hàm). Đến khi trưởng thành mỗi nửa hàm trên và dưới có 8 răng theo công thức: i 2/2 c 1/1 p 2/2m3/3 và tổng cộng là 32 răng. Mỗi răng gồm 3 phần: thân răng lộ ra ngoài. chân răng cắm chặt trong huyệt răng ở xương hàm và cổ răng giữa chân và thân răng. Trong lòng răng có khoang rỗng chứa tuỷ răng cùng với mạch máu và thần kinh (Hình 5.2). 

Ý nghĩa và sự tiến hóa của hệ tiêu hóa



1. Ý nghĩa của quá trình tiêu hóa
 Muốn sống cần có các chất nuôi dưỡng, dùng để sản xuất công và đảm bảo hoạt động sống của cơ thể. Vì thế cơ thể không thể sống được nếu môi trường ngoài không cung cấp cho cơ thể những chất nuôi dưỡng xác định, những sinh tố, muối khoáng và nước,  phù hợp với bản chất cơ thể và điều kiện sống của nó. Từ những động vật bậc thấp đến động vật bậc cao, chức năng dinh dưỡng được thực hiện nhờ hệ tiêu hoá. Hệ tiêu hoá (ống tiêu hoá) cùng với một số cơ quan: gan, tuỵ là cơ quan tiếp nhận, thực hiện các quá trình biến đổi cơ học, hoá học, vi sinh vật chuyển các chất phức tạp của thức ăn thành các chất đơn giản giúp cơ thể hấp thu và sử dụng được. 

Tính hướng sáng ở thực vật


Tính hướng quang đã được Darwin nghiên cứu từ năm 1880 và ông cho rằng đỉnh ngọn cây là nơi tiếp nhận kích thích của ánh sáng một chiều.Tính hướng quang là đặc điểm sinh trưởng của cơ quan hướng về phía ánh sáng. Các cơ quan bộ phận khác nhau của cây có tính hướng quang khác  nhau. Thân của cây có tính hướng quang dương tức là hướng đến nguồn ánh sáng. Ðể thấy rõ điều  đó ta quan sát thí nghiệm sau:  đem hạt hòa thảo gieo vào trong chậu rồi đặt vào một thùng tối có một lỗ cho ánh sáng chui qua. Sau một thời gian những cây con không mọc thẳng mà cong về phía có lỗ ánh sáng. 

Ta cũng có thể quan sát hiện tượng khi đặt chậu cây ở trên cửa sổ, sau một thời gian cây sẽ hướng ra ngoài ánh sáng. Lá của cây thì có tính hướng quang ngang, tức là nó có xu hướng phân bổ vuông góc với ánh sáng mặt trời  để hấp thu nhiều ánh sáng cho quá trình quang hợp. Tuy nhiên tùy thuộc vào cường  độ chiếu sáng mạnh hay yếu mà sự vận  động của lá có khác nhau. Nếu ánh sáng có cường  độ quá cao thì tính hướng quang dương có thể chuyển thành hướng quang âm. Tức là chúng sắp xếp song song với hướng tia sáng mặt trời  để tránh sự  đốt nóng và sự phân hủy sắc tố chlorophin. Tính hướng quang dương thường thể hiện ở các cơ quan trên mặt đất. Còn rễ thì ít cảm ứng với ánh sáng vì chúng đã thích nghi với điều kiện thiếu ánh sáng ở trong đất, vì vậy rễ có tính hướng quang âm. Tuy nhiên cũng có những loại cây mà rễ có tính hướng quang dương như rễ cây họ hành tỏi (Liliaceae). 

Cơ chế điều hòa hô hấp


1. Sự điều hoà thần kinh
a. Các trung khu hô hấp
     *  Các trung khu ở tuỷ sống: 
- Sừng xám của tuỷ sống ở đốt sống cổ III – IV điều khiển cơ hoành - Sừng xám của tuỷ sống ở đốt ngực điều khiển cơ liên sườn - Trung khu điều chỉnh hô hấp (pneumotaxic) nằm ở phía trên mặt lưng của cầu não, có tác dụng kìm hãm trung khu hít vào ở hành tuỷ. Nếu có xung ức chế mạnh từ trung khu này xuống hành tuỷ sẽ làm cho động tác hít vào ngắn gây tăng nhịp thở, còn nếu xung ức chế đi xuống yếu thì động tác hít vào dài, nhịp hô hấp chậm lại.

- Trung khu “ngừng thở” (apneustic), nằm ở phía dưới mặt lưng của não cầu, chức năng chưa rõ lắm nhưng khi kích thích thì gây động tác hít vào kéo dài, thỉnh thoảng có phản ứng thở hắt ra nhanh, và cũng có thể gây ngừng thở khi hít vào tối đa.

Sự vận chuyển khí của máu


Sự vận chuyển oxy và cacbonic của máu
1. Sự vận chuyển Oxy
      Oxy được vận chuyển theo máu dưới hai dạng: dạng hoà tan (tự do)  và dạng kết hợp.
* Dạng hoà tan: Khả năng hoà tan của O2 trong máu rất thấp và phụ thuộc vào áp suất riêng phần của nó. Nếu ở máu động mạch Po2 là 104mmHg thì lượng O2 hoà tan là 0,3ml/100ml máu. Khi Po2  ở tĩnh mạch còn lại 40mmHg thì chỉ có 0,12ml/100ml máu. Như vậy cứ 100ml máu vận chuyển đến mô chỉ còn 0,3ml – 0,12ml = 0,18ml O2, chỉ chiếm 2 – 3% lượng O2 đưa đến mô, trong lúc đó dưới dạng kết hợp với Hb đã cung cấp cho mô 5ml/100ml máu, chiếm 97 – 98%. Khả năng của O2 có thể hoà tan  ở mức 29ml/100ml máu khi Po2  đạt 3000mmHg, nhưng khi đó sẽ gây hiện tượng co giật gây phù phổi nặng (gọi là trúng độc O2). Do vậy khi truyền oxy, cần chú ý để duy trì Po2 ở mức 1000mmHg.   

Sự trao đổi khí ở phổi


Sự trao đổi khí ở phổi và mô

 1. Sự trao đổi khí ở phổi
      Trao  đổi khí ở phổi diễn ra ở phế nang và máu trong hệ thống mao mạch phân bố dày đặc đến màng các phế nang theo nguyên tắc khuếch tán do có sự chênh lệch áp suất của từng loại khí (áp suất riêng phần) được tính theo tỉ lệ %. Trao đổi khí ở phổi còn gọi là hô hấp ngoài. Trong phế nang áp suất riêng phần của oxy (Po2 ) là 104mmHg và Po2 trong máu đến phổi là 40 mmHg, do đó O2 từ phế nang khuếch tán sang máu. Ở máu ra khỏi phổi Po2 xấp xỉ bằng 104mmHg. Trong khi đó Pco2 trong máu đến phổi là 46mmHg, còn trong phế nang là 40mmHg, nên CO2 khuếch tán từ máu sang phổi.

Các thể tích khí hô hấp


Trong trạng thái bình thường, ở người lớn mỗi lần hít vào cũng như khi thở ra đo được 0,5 lít, gọi đó là khí lưu thông

Khi thở ra bình thường, chưa hít vào, mỗi người có thể thở ra cố sức được khoảng 1,5 lít gọi là khí dự trữ thở ra

Còn khi thở vào bình thường, chưa thở ra, cũng có thể hít vào cố sức được thêm khoảng 1,5 – 2,5 lít, gọi là khí dự trữ hít vào

Sau khi đã thở ra cố sức vẫn còn một lượng khí tồn trữ trong phổi khoảng 1 lít gọi là khí cặn, chức năng của khí cặn là đảm bảo cho đường hô hấp thông suốt. 

Tổng số các loại khí: lưu thông, dự trữ thở ra, dự trữ hít vào gọi là dung tích sống (hay sinh lượng). Đó là lượng khí có thể đo của một lần thở ra cố sức sau khi đã hít vào cố sức, khoảng 3,5 – 4,5 lít. Tổng số của dung tích sống và khí cặn gọi là dung lượng phổi

Theo GTSLĐV&Người

DOWNLOAD:

Cấu tạo của hệ hô hấp


1. Đối với nhóm động vật ở nước
Động vật sống ở nước hô hấp chủ yếu bằng mang. Mang là những màng mỏng có nhiều mao mạch phân bố đến và đính vào cung mang bằng sụn hay xương, thường nằm ở vùng phía trước ống tiêu hoá. Mang có bề mặt rộng và khoảng cách rất ngắn nên O2 và CO2 có thể khuếch tán giữa nước và máu. O2 khuếch tán từ nước vào biểu bì mang, rồi qua thành mao mạch vào máu. CO2 (thường vận chuyển dưới dạng HCO3-, bicarbonat) khuếch tán theo hướng ngược lại. 
Mang cá có hình răng lược, có khe hở để nước chảy qua và có nắp đậy kín. Mang cá có  đặc  điểm là nước và dòng máu chảy theo các hướng ngược nhau. Nhờ vậy mà máu có thể thu nhận O2 tới 80% O2 hoà tan trong nước. 

Vai trò của hô hấp


Đối với nhiều loài động vật và con người, nhịp thở được coi là dấu hiệu nhận biết sự sống. Sự thở chính là biểu hiện bên ngoài của quá trình hô hấp. Con người có thể nhịn ăn từ 20 – 30 ngày, nhịn uống được khoảng 3 ngày, nhưng không nhịn thở được quá 3 phút.

Hô hấp được xem là quá trình trao đổi khí liên tục giữa cơ thể và môi trường xung quanh. Trong đó có việc vận chuyển khí oxy từ không khí tới các tế bào của cơ thể và vận chuyển ngược lại khí carbonic từ các tế bào của cơ thể ra môi trường bên ngoài. Các tế bào cần cung cấp oxy (oxygen) để thiêu đốt chất dinh dưỡng, tạo thân nhiệt và năng lượng cần thiết cho các hoạt động sống. Như vậy bản chất của quá trình hô hấp là những quá trình oxy hoá các chất hữu cơ trong tế bào  để chuyển dạng năng lượng tích trữ trong các chất dinh dưỡng (được ăn vào) thành ATP là dạng năng lượng cho cơ thể hoạt động.

Sự tuần hoàn bạch huyết


Tuần hoàn bạch huyết
Tuần hoàn bạch huyết là tuần hoàn của dịch kẽ. Các dịch kẽ đi từ tổ chức vào các mạch bạch huyết nhỏ, sau gom vào mạch bạch huyết lớn, và cuối cùng vào hai ống ngực là ống bạch huyết phải và ống bạch huyết trái (hay ống ngực). Cả hai ống trên đều đổ vào các tĩnh mạch lớn của tuần hoàn máu. Bạch huyết cùng với máu tĩnh mạch đổ về tâm nhĩ phải. Trong một ngày đêm lượng bạch huyết đổ vào vòng tuần hoàn máu khoảng 1200-1500 ml.

Điều hòa hoạt động của hệ tim mạch


Ðiều hòa hoạt động tim mạch
1. Điều hoà hoạt động của tim
Hoạt động của tim được thay đổi phù hợp với yêu cầu của cơ thể. Sự thay đổi này gọi là điều hoà hoạt động tim. Hoạt động của tim được điều hoà bởi cơ chế thần kinh, thể dịch và tim còn có khả năng tự điều hoà.

a. Ðiều hòa ngay tại tim - định luật Frank-Starling
Hai nhà sinh lý học Frank-Starling đã chứng minh: sự co rút tâm thất thay đổi trực tiếp theo thể tích cuối tâm trương. Tăng thể tích cuối tâm trương làm tăng sự co rút của tim và vì vậy tăng thể tích tống máu tâm thu. Khi thể tích cuối tâm trương tăng, cơ tim giãn ra và sự co rút mạnh hơn, cơ chế này được gọi là định luật Frank-Starling của tim. Khi tăng sức cản bên ngoài, lượng máu do tim tống ra giảm xuống, thể tích cuối tâm trương tăng, tim tăng co thắt để đưa lượng máu ra ngoài bình thường.
Ðịnh luật Frank-Starling có mục đích chủ yếu giữ cân bằng đồng thời thể tích tống máu tâm thu của hai tâm thất nhằm tránh, trong tuần hoàn phổi, mọi sự ứ trệ (phù phổi) hoặc bơm máu không hữu ích, mà những điều này có thể dẫn đến tử vong.

Cấu tạo và chức năng hệ mạch

Cấu tạo và chức năng của hệ mạch
1. Cấu tạo và chức năng của động mạch
a. Cấu tạo
Ðộng mạch có chức năng đưa máu từ tim đến các mao mạch toàn cơ thể. Hệ động mạch gồm các ống dẫn đàn hồi và có sức cản cao. Từ  động mạch chủ, các mạch máu được phân nhánh ngày càng nhỏ dần, càng xa tim, thiết diện của mỗi động mạch càng nhỏ, nhưng thiết diện của hệ động mạch càng lớn, vận tốc máu càng xa tim càng giảm.
Thành động mạch có 3 lớp: lớp trong là lớp tế bào nội mạc; lớp giữa chứa các tế bào cơ trơn và các sợi đàn hồi, tỉ lệ giữa sợi cơ trơn và sợi đàn hồi thay đổi theo từng loại động mạch; lớp ngoài là tổ chức liên kết , có các sợi thần kinh, ở những động mạch lớn có cả mạch máu nuôi dưỡng thành động mạch.

Chu kì hoạt động của tim


 Chu kỳ hoạt động của tim 
Tim đập nhịp nhàng, đều đặn. Khoảng thời gian từ đầu của một tiếng tim này đến đầu tiếng tim khác gọi là một chu kỳ tim. Giữa điện tâm đồ, các hiện tượng cơ học (co và giãn) và những thay đổi về áp lực tâm nhĩ, tâm thất, thể tích tâm thất và áp lực động mạch chủ trong suốt chu kỳ tim có liên quan với nhau. 

Áp lực ở thất trái cao, còn thất phải thì áp lực thấp hơn nhiều vì thành thất phải mỏng hơn tuy nhiên thể tích tống máu là như nhau. Ở một chu kỳ tim bình thường, hai tâm nhĩ co trong khi hai tâm thất giãn và ngược lại. 

Cấu tạo và chức năng tim

Cấu tạo và chức năng của tim
1.Cấu tạo của tim 

a. Buồng tim và van tim
- Buồng tim
Về phương diện giải phẫu, tim người cũng như tim  động vật bậc cao  được chia thành bốn buồng: hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Nhĩ phải và nhĩ trái nhận máu tĩnh mạch; thất phải và thất trái bơm máu vào động mạch. Hai tâm nhĩ ngăn cách nhau bởi vách liên nhĩ, hai tâm thất ngăn cách nhau bởi vách liên thất. Sau khi sinh, ống Botal ở vách liên nhĩ dần đóng lại vào tuần thứ 6 đến tuần thứ 11, lỗ Botal đóng hẳn sau 6 tháng đến một năm. Từ đó tim gần như người trưởng thành. Ðộ dày các thành tim ở các buồng thay đổi tùy theo chức năng của nó. Thành cơ tim thất trái dày gấp hai đến bốn lần thành thất phải, do phải bơm máu với áp lực cao hơn để thắng sức cản lớn của tuần hoàn hệ thống. Trung bình tỉ lệ bề dày thành thất trái/thất phải ở sơ sinh là 1,4/1; ở 4 tháng đến 6 tháng tuổi là 2/1 và ở 15 tuổi là 2,76/1. Năng lượng cần thiết cho sự chuyển động của máu xuất phát từ thành cơ tim.

Sự tiến hóa của hệ tuần hoàn


Sự tiến hóa của hệ tuần hoàn
Ở động vật có xương sống bậc cao và người gồm có tim và hệ mạch (động mạch, mao mạch, tĩnh mạch). Ở động vật đa bào tuần hoàn ở dạng sơ khai, chỉ đến động vật có xương sống bậc thấp tim mới xuất hiện. Tiếp theo sau đó cùng với sự tiến hoá của sinh vật, hệ tuần hoàn ngày càng hoàn thiện. Từ chỗ ở cá tim chỉ có hai ngăn gồm tâm thất và tâm nhĩ với một vòng tuần hoàn duy nhất. Tiến đến lưỡng cư, tim có 3 ngăn (2 tâm nhĩ và 1 tâm thất) với 2 vòng tuần hoàn chưa tách biệt hoàn toàn. Ở bò sát tim đã có 4 ngăn, có 2 vòng tuần hoàn lớn và 2 vòng tuần hoàn nhỏ, nhưng vách ngăn giữa tâm thất chưa hoàn toàn. Do có lỗ thông giữa 2 tâm thất nên máu động mạch và tĩnh mạch còn bị pha lẫn.

Hệ nhóm máu Rh


Hệ thống nhóm máu Rhesus (Rh) 
1. Phân loại 
Có 6 loại kháng nguyên Rh, chúng được ký hiệu là C, D, E, c, d, e. Một người có kháng nguyên C thì không có c và ngược lại, điều này cũng đúng đối với các cặp D-d và E-e. Do phương thức di truyền của các yếu tố này, mỗi người chúng ta có 3 kháng nguyên thuộc 3 cặp C-c, D-d, E-e (chẳng hạn CDE; CdE; cdE; De...).

Kháng nguyên D là thường gặp nhất và có tính kháng nguyên mạnh nhất nên những người mang kháng nguyên D  được gọi Rh dương, những người không mang kháng nguyên D được gọi là Rh âm.

Hệ nhóm máu ABO


Hệ thống nhóm máu ABO 
Năm 1901, Landsteiner phát hiện ra hiện tượng: huyết thanh của người này làm ngưng kết hồng cầu của người kia và ngược lại. Sau đó, người ta đã tìm được kháng nguyên A và kháng nguyên B, kháng thể α (chống A) và kháng thể β (chống B).

1. Phân loại 
Trong hệ thống này có 2 loại kháng nguyên là A và B nằm trên màng hồng cầu. Ngoài ra trong huyết tương còn có 2 loại kháng thể là kháng thể kháng A (kháng thể α) và kháng thể kháng B (kháng thể β). Kháng thể α có khả năng ngưng kết kháng nguyên A, kháng thể β có khả năng ngưng kết kháng nguyên B. Người ta dựa vào sự hiện diện kháng nguyên A, B trên màng hồng cầu để phân loại hệ thống nhóm máu ABO (bảng 2.3).

Các bệnh ưa chảy máu


Các bệnh ưa chảy máu
1. Thiếu vitamin K
Vitamin K rất cần cho sự tổng hợp các yếu tố đông máu II, VII, IX, X tại gan. Vì vậy khi thiếu hụt vitamin K sẽ gây xuất huyết. 
2. Bệnh Hemophilia (bệnh ưa chảy máu)
Thường gặp ở nam giới, 85% trường hợp do thiếu yếu tố đông máu VIII đó là bệnh Hemophilia A hay bệnh Hemophilia cổ  điển; 15% do thiếu hụt yếu tố IX  đó là Hemophilia B. Ðây là bệnh di truyền qua nhiễm sắc thể X. Bệnh nhân bị xuất huyết sau chấn thương, có khi là chấn thương rất nhẹ không nhận biết được.  -  Giảm tiểu cầu: thường gặp là bệnh giảm tiểu cầu nguyên phát (vô căn). Xuất hiện nhiều nốt xuất huyết trên toàn cơ thể.

Theo GTSLĐV&N

DOWNLOAD:

Các yếu tố chống đông máu

Sự chống đông máu 
1. Các yếu tố trên bề mặt nội mạc
- Sự trơn nhẵn của nội mạc ngăn cản sự hoạt hóa do tiếp xúc bề mặt của hệ thống gây đông máu.
- Lớp glycocalyx là một chất mucopolysaccarid được hấp phụ vào mặt trong của nội mạc, có tác dụng đẩy tiểu cầu và các yếu tố gây đông máu cho nên ngăn cản được sự hoạt hóa hệ thống gây đông máu.
- Thrombomodulin là một protein của nội mạc có khả năng gắn với thrombin làm bất hoạt thrombin. Ngoài ra phức hợp thrombomodulin-thrombin còn có tác dụng hoạt hóa protein C của huyết tương, mà protein C hoạt hóa sẽ ngăn cản tác dụng của yếu tố Va và yếu tố VIIIa.

Quá trình đông máu


Sự đông máu 
1. Khái niệm chung
Trong cơ thể có hơn 50 chất  ảnh hưởng đến sự đông máu. Những chất thúc đẩy đông máu được gọi là yếu tố đông máu, những chất ngăn cản đông máu được gọi là chất chống đông. 
Máu có đông hay không đông là phụ thuộc vào sự cân bằng giữa các chất gây đông máu và các chất chống đông máu. Bình thường máu trong cơ thể không đông là do chất chống đông máu chiếm ưu thế. Khi mạch máu bị tổn thương, khi máu lấy ra ngoài cơ thể, các chất gây đông máu được hoạt hóa và trở nên ưu thế, đông máu được thực hiện.
Ðông máu là một quá trình chuyển máu ở thể lỏng (sol) sang thể đặc (gel), mà thực chất là chuyển fibrinogen ở dạng hòa tan thành dạng không hòa tan.

Cấu tạo tiểu cầu


Tiểu cầu
Tiểu cầu thực chất là một mảnh tế bào được vỡ ra từ tế bào nhân khổng lồ. Sau khi được phóng thích từ tuỷ xương, chỉ có 60-75% tiểu cầu lưu thông trong máu, phần còn lại được giữ ở lách. 
Số lượng bình thường của tiểu cầu trong máu là 150.000-300.000/mm3. Tiểu cầu tăng khi thức ăn giàu đạm, khi chảy máu và bị dị ứng. Tiểu cầu giảm khi bị thiếu máu ác tính, bị nhiễm phóng xạ...
Ðời sống tiểu cầu thay đổi từ vài ngày đến 2 tuần. Tiểu cầu có kích thước 2-4μm, thể tích 7-8μm3, không có nhân nhưng bào tương có nhiều hạt. Có 2 loại hạt là:

Cấu tạo và chức năng bạch cầu


Bạch cầu
Bạch cầu là những tế bào máu có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.
1. Các loại bạch cầu. 
Dựa vào hình dáng, cấu trúc và cách bắt màu phẩm nhuộm, người ta chia bạch cầu ra làm hai nhóm chính là bạch cầu hạt và bạch cầu không hạt.
+ Bạch cầu hạt chứa những hạt trong bào tương mà có thể thấy dưới kính hiển vi quang học. Tuỳ theo cách bắt màu phẩm nhuộm của các hạt mà chúng có tên là bạch cầu hạt trung tính, ưa acid, ưa kiềm. Ngoài ra, do nhân của các bạch cầu hạt này có nhiều thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đa nhân.
+ Bạch cầu không hạt thì trong bào tương không có các hạt mà có thể thấy được dưới kính hiển vi quang học do kích thước các hạt của chúng nhỏ và bắt màu phẩm nhuộm kém. Có hai loại bạch cầu không hạt là bạch cầu lympho và bạch cầu mono. Nhân của các bạch cầu không hạt này không chia thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đơn nhân. 

Cấu tạo và chức năng hồng cầu


Hồng cầu

1. Cấu tạo và thành phần 

a. Cấu tạo
Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu. Ở động vật như cá, lưỡng cư, bò sát, chim, hồng cầu hình bầu dục có nhân; ở đa số thú khác hồng cầu dạng hình đĩa lõm hai mặt và không có nhân như hồng cầu của người. Hồng cầu trưởng thành, lưu thông trong máu là tế bào không có nhân. Ở người trong điều kiện tự nhiên, hồng cầu  có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7-8 μm, bề dày phần ngoại vi 2-2,5 μm và phần trung tâm 1 μm, thể tích trung bình 90-95 μm3. Hình dạng này có hai lợi điểm như sau: 

Ảnh đẹp loài rùa biển

 Những loài bò sát sống dưới biển này quả là những tuyệt tác của thiên nhiên, chúng ta bắt gặp những hình ảnh đẹp và vô cùng đáng yêu của các chú rùa biển. Rùa biển bao gồm 7 loài và tất cả chúng đều nằm trong sách đỏ IUCN. Trong tự nhiên, chúng thường bị đe dọa bởi các loài như cá mập, các loài chim biển, đặc biệt là con người. (Theo Wiki)

ảnh đẹp các loài rùa, hình ảnh các loài rùa, ảnh đẹp nhất về rùa biển, các loài rùa biển đẹp nhất, động vật trong lòng đại dương, ảnh đẹp động vật trong lòng địa dương,

Ảnh đẹp động vật trong lòng đại dương 3

Đại dương sâu thẳm, nơi ẩn chứa những bí mật mà con người chưa thể khám phá hết. Và ở đó cũng là nơi có số lượng động vật vô cùng phong phú, đa dạng với đủ màu sắc, hình dạng và kích thước.
Blog Sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn bộ ảnh động vật về các loài cá, rùa,... với vẻ đẹp lộng lẫy không hề thua kém những sinh vật tuyệt đẹp trên cạn. 

ảnh đẹp động vật trong lòng đại dương, những sinh vật trong lòng đại dương, những sinh vật đẹp trong long đại dương, những loài cá đẹp nhất, ảnh đẹp về loài rùa,.

Ảnh đẹp động vật trong lòng đại dương 2

Đại dương sâu thẳm, nơi ẩn chứa những bí mật mà con người chưa thể khám phá hết. Và ở đó cũng là nơi có số lượng động vật vô cùng phong phú, đa dạng với đủ màu sắc, hình dạng và kích thước.
Blog Sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn bộ ảnh động vật về các loài cá, rùa,... với vẻ đẹp lộng lẫy không hề thua kém những sinh vật tuyệt đẹp trên cạn. 

ảnh đẹp động vật trong lòng đại dương, những sinh vật trong lòng đại dương, những sinh vật đẹp trong long đại dương, những loài cá đẹp nhất, ảnh đẹp về loài rùa,.

Ảnh đẹp động vật trong lòng đại dương 1

Đại dương sâu thẳm, nơi ẩn chứa những bí mật mà con người chưa thể khám phá hết. Và ở đó cũng là nơi có số lượng động vật vô cùng phong phú, đa dạng với đủ màu sắc, hình dạng và kích thước.
Blog Sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn bộ ảnh động vật về các loài cá, rùa,... với vẻ đẹp lộng lẫy không hề thua kém những sinh vật tuyệt đẹp trên cạn. 


ảnh đẹp động vật trong lòng đại dương, những sinh vật trong lòng đại dương, những sinh vật đẹp trong long đại dương, những loài cá đẹp nhất, ảnh đẹp về loài rùa,.

Hình ảnh bướm đẹp phần 3

Bướm là các loài côn trùng nhỏ, biết bay, hoạt động vào ban ngày thuộc bộ Lepidoptera, có nhiều loại, ít màu cũng có mà sặc sỡ nhiều màu sắc cũng có. Thường chúng sống gần các bụi cây nhiều hoa để hút phấn hoa, mật hoa, góp phần trong việc giúp hoa thụ phấn. Bướm ngày nhiều khi gọi tắt là bướm, mặc dù bướm có thể chỉ đến bướm đêm (ngài).

Màu sắc của các loài bướm được tạo ra từ hàng nghìn vảy nhỏ li ti, được xếp lên nhau. Đôi khi nó cũng là những hạt có màu, nhưng trong trường hợp thông thường thì bề mặt tạo ra các vảy này có thể khúc xạ ánh sáng, do đó cánh bướm có màu liên tục thay đỏi, lấp lánh khi di chuyển. Thường thì phía dưới có màu xámhoặc nâu khác xa với màu sặc sỡ ở phía trên. Những màu xấu xí này sẽ dùng để ngụy trang khi cánh của nó xếp lại. Điều này sẽ giúp nó thoát khỏi con mắt săn lùng của các loài chim và sâu bọ khác. (Theo Wiki)
hình ảnh đẹp của bướm, những cánh bướm xinh, ảnh đẹp động vật, hình ảnh bướm đẹp,.

Hình ảnh đẹp về cá heo

Cá heo là động vật có vú sống ở đại dương và sông nước có quan hệ mật thiết với cá voi. Có gần 40 loài cá heo thuộc 17 chi sinh sống ở các đại dương, số ít còn lại sinh sống tại một số con sông trên thế giới (sông Dương Tử, sông Amazon, sông Ấn, sông Hằng..). 

Kích thước của cá heo có thể từ 1,2 m (4 ft) và 40 kg (90 lb) (Cá heo Maui), cho tới 9,5 m (30 ft) và 10 tấn (9.8 LT; 11 ST) (Cá heo hổ hay Cá voi sát thủ). Cá heo có trên toàn thế giới và thường cư ngụ ở các biển nông của thềm lục địa. Cá heo là loài ăn thịt, chủ yếu là ăn  và mực. Họ cá voi đại dươngDelphinidae là họ lớn nhất trong bộ cá heo và cũng là họ xuất hiện muộn nhất: khoảng 10 triệu năm trước đây, trong thế Trung Tân. Cá heo là một trong số những động vật thông minh và được biết đến nhiều trong văn hóa loài người nhờ hình thức thân thiện và thái độ tinh nghịch.
ảnh đẹp cá heo, hình ảnh cá heo, cá heo đẹp, cá heo đẹp,

Hình ảnh đẹp loài chim

Chim (danh pháp khoa họcAves ) là tập hợp các loài động vật có xương sốngmáu nóngđi đứng bằng hai chân và đẻ trứng. Trong lớp Chim, có khoảng 10.000 loài còn tồn tại, giúp chúng trở thành lớp đa dạng nhất trong các loài động vật bốn chi. Lớp chim cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới châu Nam Cực. Các loài chim có kích thước dao động khác nhau, từ nhỏ cỡ 5 cm (như Mellisuga helenae - một loài chim ruồi) cho tới lớn cỡ 2,7 m (như đà điểu). (Wiki)
ảnh đẹp về chim, ảnh chim đẹp, hình ảnh loài chim đẹp, ảnh đẹp các loài vật,

Hình ảnh đẹp bọ ngựa

Có kích thước thân thể lớn. Đầu hình tam giác, có thể quay nhiều hướng nên tầm quan sát rất rộng . Râu đầu hình lông cứng. Mắt kép lồi to, có 2 mắt đơn ở đỉnh đầu. Miệng ngậm nhai. Ngực trước rất dài. Chân trước là chân bắt mồi, bàn chân có 5 đốt. Cánh trước là cánh da dài hẹp, cánh sau là cánh màng hình tam giác. Khi không bay cánh được xếp hình mái như mái nhà trên lưng. Bộ bọ ngựa có nhiều màu sắc, tuỳ theo từng khu vực sống và nơi cư ngụ: trên cây, hoa, lá... chúng sẽ có những hình dạng và màu sắc khác nhau; ở Việt Nam có thể thấy màu xanh lá và nâu nhiều nhất.
Blog Sinh học Online xin giới thiệu bộ sưu tầm hình ảnh của bọ ngựa, chúc các bạn có những giây phút thật vui vẻ, sảng khoái. 
hình ảnh đẹp bọ ngựa, ảnh đẹp các loài động vật, ảnh đẹp động vật, ảnh đẹp côn trùng,

Thành phần và chức năng huyết tương


Huyết tương
Huyết tương là phần lỏng của máu, dịch trong, hơi vàng, sau khi ăn có màu sữa, vị hơi mặn và có mùi đặc biệt của các acid béo. Trong thành phần huyết tương nước chiếm 90 - 92%, chất khô 8 - 10%. Trong chất khô của huyết tương gồm có prôtêin, lipid, glucid, muối khoáng, các hợp chất hữu cơ có chứa N không phải prôtêin (đạm cặn), các enzym, hormon, vitamin.

Thành phần và tính chất của máu


Khối lượng, thành phần, tính chất lý hóa học của máu

1. Khối lượng máu
Khối lượng máu trong cơ thể chiếm 7 - 9%  khối lượng cơ thể (tức 1/13 thể trọng). Trung bình người trưởng thành có khoảng 75-80ml máu trong 1 kg trọng lượng tức là có khoảng 4-5 lít máu. Trẻ sơ sinh có 100ml máu/kg cân nặng, sau đó khối lượng máu giảm dần. Từ 2-3 tuổi trở đi khối lượng máu lại tăng dần lên, rồi giảm dần cho đến tuổi trưởng thành thì hằng định. Ở nam giới lượng máu nhiều hơn ở nữ giới. Ở động vật, khối lượng máu thay đổi theo loài. Tỷ lệ phần trăm máu so với khối lượng cơ thể ở cá là 3; ếch là 5,7; mèo 6,6; thỏ là 5,5; bồ câu 9,2; ngựa 9,8; lợn 4,6; bò 8,0; gà 8,5...

Máu và chức năng của máu


Ý nghĩa sinh học và chức năng chung của máu
Máu là một tổ chức liên kết đặc biệt gồm hai phần là huyết tương và các thành phần hữu hình. Huyết tương gồm nước và các chất hoà tan, trong  đó chủ yếu là các loại prôtêin, ngoài ra còn có các chất điện giải, chất dinh dưỡng, enzym, hormon, khí và các chất thải. Thành phần hữu hình gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

Máu lưu thông trong hệ mạch và có các chức năng chính như sau :

Emzim cắt giới hạn (RE)


 Các enzyme cắt giới hạn  

1. Enzyme cắt giới hạn là gì?
  Enzyme cắt giới hạn (restriction endonuclease) hay gọi tắt là enzyme giới hạn (restrictase) là loại enzyme có khả năng nhận biết đoạn trình tự nucleotide đặc hiệu trên các phân tử DNA và cắt cả hai sợi DNA bổ sung tại  các vị trí đặc thù.

2. Vai trò của các enzyme cắt giới hạn
 Từ 1953 người ta đã phát hiện thấy rằng, khi đưa DNA của một nòi vi khuẩn E. coli này vào tế bào thuộc một nòi khác thường thì DNA được đưa vào, gọi là DNA ngoại lai hay DNA lạ, mất hẳn hoạt tính di truyền và hầu như bao giờ cũng bị phân cắt thành các đoạn ngắn. Chỉ trong một số ít trường hợp DNA lạ đó mới không bị phân cắt và do đó nó có thể tái bản trong tế bào chủ. Điều đó chứng tỏ DNA lạ được sửa đổi bằng cách nào đó dưới sự kiếm soát của tế bào chủ. Các hiện tượng nói trên xảy ra chủ yếu khi các thể thực khuẩn (phage) xâm nhiễm các tế bào vi khuẩn.

Cơ chế sửa sai và bảo vệ ADN là gì?


Sửa chữa và bảo vệ ADN

 * Cơ chế sửa sai sinh học
Tế bào sống có hàng loạt hệ thống sai hỏng DNA theo nhiều cách khác nhau. Tỷ lệ đột biến tự nhiên thấp do nhờ tính hiệu quả của hệ thống sửa sai này. Sai hỏng của hệ thống sửa sai này dẫn đến tỷ lệ đột biến cao.

• Quang phục hoạt (photoreactivation) hay sửa sai nhờ ánh sáng (light repair)

Sau khi xử lý tia tử ngoại gây đột biến, nếu đưa ra ánh sáng thì phần lớn sai hỏng được phục hồi nhờ enzyme photolyase. Enzyme này gắn vào photodimer cắt nó thành các monomer dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời có bước sóng 320-370 nm. Sau đó phục hồi các base ban đầu. (Hình 8.5).

Sự xác định giới tính


Sự xác định giới tính (sex determination)
Cơ chế tự nhiên mà trong đó một cá thể của một loài phân tính (dioecious species) trở thành con  đực hoặc con cái (hay lưỡng tính, hermaphroditic) được gọi là xác định giới tính (sex determination). Thực ra, không có một phương thức phổ biến nào cho việc xác định giới tính; nhưng cho đến nay, các nhà sinh học đã khám phá ra nhiều cơ chế xác định giới tính, tập trung vào hai tiêu chí sau (xem các Bảng 4.1- 4.3). Ở một số loài, giới tính được xác định sau khi thụ tinh bởi các nhân tố môi trường như nhiệt độ hoặc sự có mặt của các thể kèm giới tính. Kiểu xác định giới tính này  được gọi là  xác định giới tính do môi trường (environmental sex determination = ESD). Ở các loài khác, giới tính được xác định lúc thụ tinh bằng sự tổ hợp của các gen mà hợp tử nhân được. Kiểu xác định giới tính này được gọi là xác định giới tính do kiểu gen (genotypic sex determination = GSD). Dưới đây chúng ta lần lượt xét qua hai hệ thống này:

Tương tác giữa các gen không alen


Các kiểu tương tác giữa các gene không alen
Kể từ sau khi phát hiện lại các nguyên lý di truyền của Mendel, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu trên các đối tượng khác nhau, như: bí ngô, đậu ngọt, lúa mỳ, ngô, ruồi giấm, gà, chuột, chó, ngựa...Một số kết quả thu được từ các thí nghiệm lai một tính đó cho thấy tỷ lệ phân ly khác với các tỷ lệ 3:1 hoặc 9:3:3:1. Các trường hợp cho tỷ lệ phân ly 9:3:3:1 hoặc một dạng biến đổi của nó được lý giải là do sự tương tác qua lại giữa các gene không alen phân ly độc lập.

Tựu trung có hai kiểu tương tác gene, đó là: tương tác giữa các gen alen và tương tác giữa các gen không alen (thường được gọi tắt là tương tác gene). 

Do các gene không alen có thể nằm trên cùng một cặp nhiễm sắc thể hoặc trên các cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau, cho nên về nguyên tắc sẽ có hai dạng tương tác gene không alen tương ứng là tương tác độc lập và tương tác liên kết; và dạng sau phải là chủ yếu bởi vì số lượng gene của một sinh vật nhiều hơn số lượng nhiễm sắc thể của nó rất nhiều. Tuy nhiên, trên thực tế, khi nói đến sự tương tác giữa các gene không alen là ta muốn nói tới sự tương tác giữa các gene không alen phân ly độc lập.

Lưu ý: (1) Sốlượng các tính trạng hình thành nên một cơ thể sinh vật nói chung là nhiều hơn số lượng gene mã hóa prôtêin có mặt trong bộgene của nó. Chẳng hạn, theo ước tính gần đây cho thấy trong bộ gene người có khoảng 25.000 gene khác nhau trong khi có tới 50.000 loại prôtêin thực hiện tất cả mọi hoạt động sống của các tế bào. (2) Như thế, sự biểu hiện của đa số tính trạng là kết quả của sự tương tác giữa nhiều gene khác nhau trong quá trình phát triển cá thể; và thực chất của sự tương tác đó là do sự tương tác giữa các sản phẩm hoạt động của các gen có bản chất prôtêin hoặc giữa các sản phẩm sinh ra từ sự xúc tác của các enzyme. (3) Con đường chuyển hóa một chất cụ thể trong tế bào là một chuỗi gồm nhiều phản ứng sinh hóa nối tiếp nhau mà mỗi khâu phản ứng được xúc tác bởi một enzyme. Ngay cả một enzyme hay prôtêin có cấu trúc bậc bốn cũng gồm một sốchuỗi polypepetide thuộc các gene khác nhau tạo nên. (4) Để cho đơn giản, thông thường ta giải thích các kết quả tương tác bằng hai gene nhưng trên thực tế, có thể có nhiều hơn hai gene cùng quy định một tính trạng.

Dưới đây chúng ta xét ba kiểu tương tác gen chính: Tương tác bổ trợ, tương tác át chế và tương tác đa phân cộnggộp. Các ví dụ nêu ra dưới đây là những thí nghiệm kinh điển của di truyền học. Để hiểu được bản chất di truyền của các tính trạng đó, đặc biệt là các tính trạng màu sắc, chúng ta cố gắng làm sáng tỏ cơ chế sinh hóa của chúng trong khả năng có thể. 

Theo GT Di truyền học
DOWNLOAD:

Tương tác cộng gộp và tính trạng số lượng


Tương tác cộng gộp - sự di truyền đa gen và các tính trạng số lượng

1. Tương tác cộng gộp (additive)
Tương tác cộng gộp hay sự di truyền đa gen(polygenic) là hiện tượng di truyền đặc trưng của một số tính trạng số lượng(quantitative trait), trong đó các gen không alen tác động cùng hướng lên sự biểu hiện của một tính trạng. Mỗi alen (thường là trội) của các gen đa phân như thế đóng góp một phần ngang nhau trong sự biểu hiện ra kiểu hình ở một mức độnhất định. Nhưvậy, liều lượng các alen tăng dần trong các kiểu gen sẽ tạo ra một dãy biến dị kiểu hình liên tục trong quần thể.

Tương tác át chế


 Tương tác át chế (epistasis)
Tương tác át chế là hiện tượng một gen này kìm hãm sự biểu hiện của một gen khác không alen với nó. Gen át chế có thể là trội hoặc lặn.

1. Át chế do gen lặn với tỷ lệ 9:3:4
Ví dụ: Sự di truyền màu sắc lông ở chuột (hình 2.8). Khi lai giữa hai dòng chuột thuần chủng lông nâu và bạch tạng, ở F1 xuất hiện toàn chuột lông đen; và khi cho các chuột F1 tạp giao với nhau thì ở F2 có sự phân ly gần với tỷ lệ 9 đen : 3 nâu : 4 bạch tạng. Để giải thích kết quả này, ta dựa vào biện luận như ở ví dụ đầu tiên (mục III-1.1) và quy ước sau đây:

Tương tác gen bổ sung



Tương tác bổ sung (Bổ trợ) (complementary)

Tương tác bổ sung là trường hợp tương tác gene làm xuất hiện kiểu hình mới khi có mặt đồng thời các gene không alen trong một kiểu gen. Các gen bổ trợ có thể là gen trội hoặc gene lặn (ởtrạng thái đồng hợp).
Tương tác kiểu bổ sung biểu hiện dưới nhiều dạng với các tỷ lệ kiểu hình F2 khác nhau, như 9:3:3:1; 9:6:1; 9:7.

1. Tương tác bổ sung với tỷ lệ 9:3:3:1
Ví dụ kinh điển cho trường hợp này là các thí nghiệm của W.Bateson và R.C.Punnett vềsựdi truyền hình dạng mào ở gà. Khi lai giữa các giống gà thuần chủng mào hình hoa hồng với mào đơn (còn gọi là mào hình lá) thu được F1 toàn mào hoa hồng, và sau khi cho tạp giao F1 thì ở F2 có tỷ lệ phân ly 3 mào hoa hồng : 1 mào đơn.

Tính đa hiệu của gen


Tính đa hiệu của gene (pleiotropy)

Hiện tượng một gene ảnh hưởng đến hai hoặc nhiều tính trạng được gọi là tính đa hiệu (pleiotropy). Ví dụ, trong các thí nghiệm ở đậu Hà Lan, Mendel đã lưu ý rằng gene kiểm soát màu hoa tím và trắng cũng ảnh hưởng lên màu sắc hạt (vỏ xám hoặc nâu) và gây ra sự có mặt hoặc không có mặt của các vệt màu tím ở bẹ lá. Trong ví dụ alen kiểm soát lông vàng ở chuột nói trên, ta thấy rằng nó còn ảnh hưởng lên sức sống ở các thể dị hợp và gây chết ở các thể đồng hợp.

Hiện tượng đa alen (đa gen)


Hiện tượng đa alen (multiple alenlism)
Trên thực tế, mỗi một gen không chỉcó hai alen mà có thể có nhiều hơn hai alen, gọi là đa alen. Các alen là những trạng thái cấu trúc khác nhau của cùng một gen phát sinh do đột biến.

Nói chung, nếu một gen trên nhiễm sắc thểthường(autosome) có n alen khác nhau, thì trong quần thể có thể có n(n+1)/2 kiểu gen, trong đó có n kiểu đồng hợp và n(n −1)/2 kiểu dị hợp (xem bảng 2.2). Đây chính là cơ sở của hiện tượng đa hình(polymorphism) quan sát được trong các quần thể tự nhiên.
Di truyền đa gen

Gen gây chết


Tác động của gen gây chết (lethal)
Các alen gây chết là những đột biến có thể trội hoặc lặn làm giảm sức sống hoặc gây chết đối với các cá thể mang nó và do đó, làm biến đổi tỷ lệ 3:1 của Mendel. Nhiều gen có các alen ảnh hưởng lên tỷ lệ chết chứ không gây chết; các alen này được gọi là các alen có hại (deleterious).
gen gây chết

Các kiểu quan hệ giữa các gen alen



1. Trội hoàn toàn (complete dominance)
Đây là trường hợp di truyền trội - lặn Mendel. Trong hầu hết các trường hợp, allele bình thường (hay kiểu dại) trội hoàn toàn so với các allele đột biến. Điều này có thể lý giải dựa trên cơ sở di truyền sinh hóa ở chỗ, alen trội cho sản phẩm protein hoạt động chức năng bình thường trong khi alen đột biến không tạo ra được sản phẩm có hoạt tính. Do đó các cá thểđồng hợp vềalen lặn không hoàn thành được con đường chuyển hóa có liên quan đến gene này. Ở người, đó là trường hợp của các alen đột biến lặn gây bạch tạng, bệnh phenylxêtôn-niệu (phenylketonuria = PKU)...