Sinh học online, giải trí hài hước

Tiêu hóa ở ruột non

 Tiêu hoá ở ruột non
  Ở ruột non, thức ăn được nhào trộn với dịch tụy, mật và dịch ruột. Sự tiêu hoá thức ăn bắt đầu ở miệng và dạ dày sẽ được hoàn tất trong lòng ruột và trong các tế bào niêm mạc ruột non. Sau đó các sản phẩm tiêu hoá được hấp thu cùng với các vitamin, các chất điện giải và nước.

I. Cấu tạo 
Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ở người sống, ruột non dài 280cm, trong đó tá tràng dài 22cm, hỗng tràng và hồi tràng dài 258cm (hỗng tràng chiếm 2/5). Đoạn đầu của tá tràng gọi là hành tá tràng.

Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết đơn độc, nhưng ở hồi tràng , các hạch bạch huyết tụ tập lại thành từng đám gọi là các màng Peyer. Trên toàn bộ ruột non có nhiều tuyến ruột hình ống, gọi là hõm Lieberkuhn (hình 5.10). Riêng ở tá tràng còn có thêm những tuyến tá tràng hình ống nang cuộn lại gọi là tuyến Brunner.  Thành  ruột non được cấu tạo bởi 2 lớp cơ trơn: cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong. Lớp trong cùng là niêm mạc ruột. Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp hình van. Bản thân niêm mạc được bao phủ bằng những nhung mao (mao trạng). Mỗi mm2 niêm mạc có khoảng 20 đến 40 nhung mao.

Cấu tạo thành ruột và nhung mao
   
Mỗi nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, dài khoảng 0,5 - 1mm, được bao phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình cột. Trong nhung mao có một mạng lưới mao mạch và mạch bạch huyết. Bờ tự do của các tế bào biểu mô của nhung mao lại chia thành những vi nhung mao làm tăng diện tích hấp thu của ruột non vào khoảng 250 đến 300 m2. Mặt ngoài màng tế bào biểu mô chứa nhiều men tiêu hoá như dísaccharidase, peptidase, và các men phân huỷ acid nucleic. Các tế bào ruột sẽ bị rơi vào lòng ruột và nhanh chóng được thay thế. Tốc độ luân chuyển của tế bào ruột là 1 - 3 ngày. Sự "bài tiết " prôtêin do tế bào rơi vào lòng ruột khá lớn, vào khoảng 30 g/ ngày.

  II.Cử động cơ học của ruột non (hình 5.11)
Vị trấp từ dạ dày sang tá tràng là bắt đầu chịu ảnh hưởng của cử động ruột non, có tác dụng chuyển dần thức ăn xuống ruột già. Thời gian thức ăn chuyển vận qua ruột non trung bình 6 giờ. Vận động của ruột gồm 3 loại cử động:
các kiểu nhu động ruột

1).  Cử động quả lắc
 Là những cử động co rút của những sợi cơ dọc của ruột có tác dụng làm cho các đoạn ruột trườn lên nhanh tránh tình trạng cố định và ứ đọng thức ăn lại một chỗ.  
 
2). Cử động co vòng từng đoạn
 Cử động co cơ vòng ruột từng đợt và từng đoạn tại chỗ, cứ 10 giây/1 lần. Cử động này có tác dụng nhào trộn thức ăn cho nó thấm đều các dịch tiêu hoá và giúp cho quá trình hấp thu tiến hành tốt. 

 Thần kinh nội tại của ruột có tác dụng chi phối nhu động thường xuyên. Điều hoà cử động này là 2 tác dụng của 2 loại sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Sợi giao cảm: ức chế nhu động. Phó giao cảm: Tăng nhu động.

•  Khi cơ thể bị ngạt CO2 trong máu tăng lên làm nhu động ruột tăng (bị ngạt vì thắt cổ tăng nhu động, phân ra ngoài).

•  Thức ăn nhiều sợi cellulose kích thích niêm mạc ruột cũng làm tăng nhu động 3).Cử động nhu động   Cử động nhu động là loại cử động phối hợp cả hai loại cơ dọc và cơ vòng và có sự can thiệp rõ rệt của hệ thần kinh, có hướng nhất định từ ruột non dến ruột già, làm cho thức ăn tiến xuống mỗi phút độ 3 cm. Cử động nhu động là loại cử động cần sự toàn vẹn của búi Auerbach và những chất hoá học trung gian như acetylcholin.

3. Dịch tuỵ
  Do các tế bào tuyến ngoại tiết của tuyến tuỵ tiết ra  (hình5.9 )dưới tác dụng của 2 cơ chế thần kinh và thể dịch.
 Sau khi ăn 5 phút, tiết dịch tuỵ kéo dài 6 - 14 giờ, lượng dịch tuỵ và lượng men, thời gian tiết tuỳ thức  ăn. Ăn tinh bột dịch tuỵ tiết nhiều vào giờ thứ nhất,  ăn thịt tiết nhiều vào giờ thứ hai. Mỗi ngày dịch tuỵ được tiết khoảng 800 ml.
Cấu tạo tụy và đảo tụy

a. Cơ chế thần kinh gây bài tiết dịch tuỵ:
 Thần kinh X chỉ huy tiết dịch tuỵ, ngoài dây X, Pavlov nhận thấy trong dây tạng (dây giao cảm) cũng có những sợi gây tiết dịch tuỵ. Các chất hoá học cường phó giao cảm như urocholin, pilocarpin tăng tiết dịch tuỵ Các chất hoá học nhược phó giao cảm như atropin ức chế tiết dịch tuỵ.
 Khi người và vật nhìn thấy thức ăn thì ngoài dịch vị tâm lý còn có dịch tuỵ tâm lý cũng được chế tiết, nhưng chỉ trong mấy phút. Dịch tuỵ tâm lý chứa nhiều men, ít nước và ít muối bicarbonate.

b. Cơ chế thể dịch gây bài tiết dịch tuỵ:  
Bayliss và Starling làm thí nghiệm cắt đứt tất cả các dây thần kinh của tuỵ và buộc thắt môn vị không cho vị trấp xuống tá tràng, dịch tuỵ liền tiết ra. Nếu buộc thắt các mạch máu của ruột và tuỵ thì bơm acid vào tá tràng không gây tiết dịch tuỵ.

Kết luận:
Niêm mạc tá tràng dưới tác dụng của acid đã tiết ra một chất hoá học trung gian, chất này theo đường máu đến tuyến tuỵ gây tiết dịch tuỵ. Chất hoá học trung gian này được đặt tên là Secretin.(Chính do phát hiện này đã biết được cơ chế của một tác dụng mới "một chất hoá học trung gian" kích thích hoạt động một tuyến, lần đầu tiên được gọi là kích thích tố).

      Nói chung 2 cơ chế thần kinh và thể dịch phối hợp tác dụng gây tiết dịch tụy thích hợp với các giai đoạn tiêu hoá. Trước tiên là dịch tụy tâm lý tiết ra do tác dụng của dây thần kinh X, sau đó khi vị trấp chuyển từ dạ dày sang tá tràng, chất HCl trong vị trấp kích thích niêm mạc tá tràng gây tiết secretin, secretin theo máu đến gây tiết dịch tuỵ.
Dịch tuỵ sẽ trung hoà vị trấp và secretin sẽ ngừng tiết, cho đến khi một đợt vị trấp khác từ dạ dày xuống gây tiết secretin trở lại.

  - Nhóm enzym phân giải protid gồm 3 enzym chính:
  + Trypsin: Được tiết dưới dạng tiền men trypsinogen, khi gặp men enterokinase của ruột biến thành trypsin. Trypsin hoạt động ở pH tối thuận bằng 8, phân giải những liên kết peptide(mà phần -CO- thuộc về những acid amin kiềm) do đó phân giải những prôtêin của thức ăn đến giai đoạn polypeptide.
  +  Chimotrypsin:  Được bài tiết dưới dạng Chimotrypsinogen và  được hoạt hoá bởi trypsin, phân giải những liên kết peptide (mà phần -CO- thuộc về những acid amin có nhân thơm). Do  đó cũng không phân giải prôtêin  đến giai  đoạn cuối cùng. Nhưng cả pepsin, trypsin và kymotrypsin phối hợp với nhau thì do cắt những liên kết peptide khác nhau có thể phân giải đến tận giai đoạn các acid amin riêng lẻ.
 + Carboxypeptidase: Được bài tiết dưới dạng procarboxypeptidase và được hoạt hoá bởi trypsin. Hoạt  động trong môi trường kiềm, cắt rời acid amin  đứng  ở  đầu C của chuỗi peptide cho những acid amin riêng lẻ. 

 - Nhóm enzym phân giải lipid: tiêu mỡ rất mạnh  
+ Lipase dịch tuỵ: pH tối thuận = 8, phân giải các liên kết ester của các acid béo với các glycerol do đó phân giải những triglycerid của lipid đã được nhũ tương hoá cho acid béo, diglycerid, monoglycerid và glycerol (thuỷ phân mỡ thành một hỗn hợp glycerid và acid béo (glycerid đơn giản là monoglycerid)).
 + Phospholipase: Cắt những liên kết ester giữa glycerol với H3PO4  , do đó phân giải phospholipid của thức ăn, để lại những diglycerid chịu tác dụng tiếp tục của lipase.
  - Nhóm phân giải glucid:
 + Amylase dịch tuỵ: Cắt những liên kết 1-4 glycoside, do đó phân giải tinh bột cả sống lẫn chín thành maltose.
 + Mantase: Phân giải maltose thành glucose.

4. Mật-Sự tạo thành và vai trò trong quá trình tiêu hoá
 Gan bài tiết mật một cách liên tục, tập trung ở túi mật. Từ túi mật được chuyển vào tá tràng từng đợt tuỳ theo bữa ăn.  Khi thức ăn có mỡ chạm vào niêm mạc tá tràng, túi mật co bóp tống mật ra và cứ thế co bóp liên tục 2 đến 3 giờ. Dây X và trong tinh chất của niêm mạc ruột non có chất gây co bóp túi mật là Cholecystokinin, chất này được niêm mạc tá tràng tiết ra khi thức ăn có mỡ chạm vào và được chuyển sang máu đến kích thích túi mật.
 Thành phần: Là dịch kiềm, hơi quánh, pH= 7- 7,7. Thành phần chính gồm: muối mật, cholesterol (chỉ là chất bài xuất), sắc tố mật (Hb của hồng cầu, dạng đào thải làm phân có màu vàng), nước (89%)

  Muối mật là thành phần duy nhất có tác dụng tiêu hoá: taurocholatnatri (acid taurocholic), glycocholatnatri (acid glycocholic).

  Có 3 tác dụng chính:
−  Hoạt hoá Lipase trong ruột, làm tăng khả năng tiêu hoá mỡ. 
−  Giảm sức căng bề mặt của mỡ nhũ tương trong ruột làm cho các hạt cầu mỡ được ổn định ở những kích thước rất nhỏ làm tăng diện tiếp xúc với men lipase.
−  Tăng cường cử động ruột, khi vào ruột tăng cường tiết dịch, nếu sự bài tiết mật rối loạn sẽ dẫn đến rối loạn hấp thu mỡ.

  Làm hòa tan và hấp thu một số chất hòa tan trong lipid, vì thế trong bệnh gan có thể thấy biểu hiện thiếu vitamin (sinh tố tan trong dầu, cholesterol, acid stearic, là những chất không tan trong nước, phản ứng với muối mật thành hợp chất gọi là acid choleic hòa tan trong nước. Đó là tác dụng giúp hòa tan của muối mật.)

5. Dịch ruột

a. Sự bài tiết dịch ruột
Khác với các dịch tiêu hóa đã nói trên, phần lỏng của các dịch ruột do các tuyến ruột bài tiết nhưng enzym tiêu hóa lại được tổng hợp ở các tế bào niêm mạc ruột, gắn với phần riềm bàn chải và chỉ được giải phóng khi tế bào niêm mạc ruột bong ra và tan vỡ. Dịch ruột có thể tiết ra do kích thích tại chỗ và do ảnh hưởng của hệ thần kinh thể dịch: tiêm secretin hoặc tinh chất niêm mạc ruột vào máu sẽ gây tiết dịch ruột. Dây X: gây tiết dịch ruột; Dây giao cảm: ức chế.  Tuy vậy, tác dụng này không rõ rệt lắm.

b. Thành phần và tác dụng của dịch ruột
 Thành phần, chức năng chính của dịch ruột là những nhóm enzym tiêu hóa:
  Nhóm enzym phân giải prôtêin:
−  Aminopeptidase: Hoạt  động trong môi trường kiềm, pH tối thuận =8, cắt rời acid amin đứng ở đầu N của những chuỗi peptid, cho những acid amin riêng lẻ (tác dụng cắt acid amin có mang NH2 tự do ở đầu mạch các polypeptid).
−  Iminopeptidase: Cắt những acid imin (prolin, oxyprolin) khỏi chuỗi peptid.
−  Dipeptidase: Phân giải các dipeptid cho các acid amin.
−  Carboxypeptidase: căt chuỗi polypeptid bắt đầu từ acid amin tự do ở cuối C của mạch polypeptid.

Nhóm phân giải lipid:
 Phân giải glycerid phức tạp thành glycerid  đơn giản, acid béo và glycerol. Lipase, phospholipase  giống  dịch tụy.

Nhóm phân giải glucid:
 Amylase, mantase giống dịch tụy. Saccharase: Phân giải saccharose cho glucose và fructose. Lactase: Phân giải lactose cho glucose và galactose.

Enterokinase: Hoạt hóa trypsinogen.

Phosphatase kiềm: Phân giải các liên kết phospho, kể cả vô cơ lẫn hữu cơ. Có tác dụng trong quá trình hấp thu đường và mỡ.

6 . Kết quả tiêu hóa ở ruột non
 Chất dinh dưỡng xuống tá tràng, có tính acid , bắt đầu được trung hòa do các dịch kiềm của dịch tụy, mật, dịch ruột nhưng vẫn còn hơi acid.

−  Protid: Đến ruột non các chất prôtêin của dưỡng trấp chịu tác dụng của trypsin và chimotrypsin, peptidase thành olygopeptid, các olygopeptid gặp aminpeptidase và carboxypeptidase sẽ biến thành acid amin.

−  Glucid: Các chất đường: maltose, saccharose, lactose và một phần tinh bột chưa tiêu đều được thủy phân thành các monosaccarid: glucose, fructose, galactose.

−  Lipid: Chịu tác dụng của lipase dịch tụy, dịch ruột, muối mật sẽ thành glycerin và acid béo.

−  Các acid nucleic gặp các men nuclease, nucleotidase sẽ thành hỗn hợp nucleotid, nucleosid, kiềm pyrimidin, purin, acid phosphoric, đường pentose.

−  Một số chất không tiêu hoá được sẽ chuyển qua ruột già để thải ra ngoài như cellulose bị thuỷ phân thành glucose bởi các vi khuẩn Bacillus, cellulosae dissolvens (vi khuẩn phân giải Cellulose), rất quan trọng đối với động vật ăn cỏ.

DOWNLOAD:

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...