Sinh học online, giải trí hài hước

Sự truyền tin qua xynap


 1. Sự dẫn truyền qua xynap 
- Cơ chế dẫn truyền qua xynap (hình 11.3)
Khi xung động thần kinh truyền đến cúc tận cùng thì màng trước xynap chuyển sang điện thế động. Dưới tác dụng của ion Ca++, các túi xynap sẽ vỡ ra giải phóng chất trung gian hóa học đi vào khe xynap và lập tức đến gắn vào các receptor ở phần sau xynap gây ra một trong hai tác dụng sau:
Cơ chế dẫn truyền qua xynap

+ Hoạt hóa enzym gắn vào receptor gây nên các thay đổi sinh lý ở phần sau xynap. Ví dụ: Norepinephrin ở xynap thần kinh giao cảm - cơ trơn phế quản hoạt hóa adenylat cyclase làm tăng lượng AMP vòng trong tế bào cơ trơn gây ra giãn phế quản.

+  Làm  thay  đổi tính thấm của màng sau xynap  đối với 3 ion Na+, K+  và Cl- dẫn  đến thay  đổi  điện thế ở màng sau xynap theo 1 trong 2 hướng sau  đây:

* Chuyển từ điện thế nghỉ sang điện thế động: do tính thấm của màng đối với Na+ tăng lên làm Na+ đi vào bên trong tế bào. Trong trường hợp này sự dẫn truyền qua xynap có tác dụng kích thích phần sau xynap và chất trung gian hóa học được gọi là chất kích thích .
Ví dụ: Norepinephrin ở xynap thần kinh giao cảm - tim 


* Làm tăng điện thế nghỉ (-70mV ( -80mV): do tính thấm của màng đối với K+ và Cl- tăng lên, K+ đi ra ngoài còn Cl- đi vào bên trong. Trường hợp này sự dẫn truyền qua xynap có tác dụng ức chế và chất trung gian hóa học là chất ức chế.
Ví dụ: Acetylcholin ở xynap thần kinh phó giao cảm - tim.

Trong số gần 40 chất trung gian hóa học của hệ thần kinh, có chất chỉ kích thích, có chất chỉ ức chế, nhưng có chất vừa kích thích vừa ức chế tùy vào loại xynap mà nó tác dụng.
Ví dụ: Acetylcholin .Ở xynap thần kinh phó giao cảm - tim: là chất ức chế. Ở xynap thần kinh vận động - cơ vân: là chất kích thích.

Sau khi phát huy tác dụng xong, chất trung gian hóa học lập tức bị các enzym đặc hiệu tại khe xynap phân hủy và mất tác dụng. Vì vậy, một kích thích chỉ gây một đáp ứng, hết kích thích hết đáp ứng.

Ðiều này có ý nghĩa sinh lý quan trọng:
+ Bảo vệ phần sau xynap khỏi bị tác động kéo dài của chất trung gian hóa học  + Cắt đứt các đáp ứng kéo dài không cần thiết của cơ thể.

2. Các hiện tượng xảy ra trong quá trình dẫn truyền qua xynap 
- Chậm xynap: So với tốc độ dẫn truyền trong sợi trục (50-100m/s), tốc độ dẫn truyền qua xynap chậm hơn rất nhiều (khoảng 5.10-5 m/s) do cơ chế dẫn truyền khác nhau: Sợi trục: cơ chế điện học. Xynap: cơ chế hóa học

- Mỏi xynap:Khi nơron bị kích thích liên tục thì đến một lúc nào đó mặc dù vẫn tiếp tục kích thích nhưng sự dẫn truyền qua xynap sẽ bị ngừng lại, hiện tượng đó gọi là mỏi xynáp. Sở dĩ có hiện tượng này là do số lượng túi xynap trong cúc tận cùng là có hạn nên khi kích thích liên tục, chất trung gian hóa học được giải phóng hết không tổng hợp lại kịp. Vì vậy, dù kích thích vẫn tiếp tục nhưng không có chất trung gian hóa học giải phóng ra nên phần sau xynap không đáp ứng nữa.Hiện tượng này có tác dụng bảo vệ các xy náp, tránh cho chúng khỏi làm việc quá sức, có thời gian để hồi phục.

- Các điều kiện cần cho sự dẫn truyền qua xynap
Một xung động thần kinh muốn truyền qua được xynap phải có đủ cả hai điều kiện sau đây: (+) Phải có một lượng nhất định chất trung gian hóa học giải phóng vào khe xynáp khi xung động thần kinh truyền đến cúc tận cùng. (+) Sau khi giải phóng ra, chất trung gian hoa học phải gắn vào được các receptor ở phần sau xynap.

Tất cả những yếu tố nào ảnh hưởng đến hai điều kiện trên đây đều làm thay đổi sự dẫn truyền qua xynap.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự dẫn truyền qua xynap

- Các yếu tố ảnh hưởng lên phần trước xynap
+ Ca++: làm các túi xynap dễ vỡ, tăng lượng chất trung gian hóa học được giải phóng nên làm tăng dẫn truyền qua xynap.
+ Mg++: làm các túi xynap khó vỡ nên ức chế dẫn truyền qua xynap.
+ Ephedrin: tác động vào các cúc tận cùng làm tăng giải phóng norepinephrin, gây cường giao cảm, được sử dụng để điều trị hen phế quản.
+ Reserpin: làm phóng thích từ từ epinephrin và norepinephrin vào khe xynap để các enzym phân hủy dần dần, giảm dự trữ 2 chất này trong cúc tận cùng. Vì vậy, reserpin được sử dụng để điều trị bệnh cao huyết áp.

- Các yếu tố ảnh hưởng lên khe xynap
Các yếu tố này  ảnh hưởng  đến các xynap mà chất trung gian hóa học là acetylcholin theo cơ chế như sau: Bình thường, sau khi được giải phóng vào khe xynap và phát huy tác dụng xong, acetylcholin sẽ bị một enzym đặc hiệu tại khe xynap là Cholinesterase phân giải thành cholin + acetat và mất tác dụng. Các yếu tố này sẽ ức chế cholinesterase bằng cách gắn vào enzym làm nó mất tác dụng, acetylcholin không bị phân hủy sẽ ứ đọng tại khe xynap và tác  động liên tục vào receptor làm màng sau xynap luôn  ở trạng thái  đáp  ứng dù không còn xung động thần kinh truyền đến xynap. Dựa vào mức độ ức chế enzym, người ta chia các yếu tố này ra làm hai loại:

+ Loại ức chế tạm thời: các chất này chỉ ức chế enzym một thời gian ngắn sau đó chúng giải phóng enzym hoạt  động trở lại. Ðó là các chất thuộc nhóm Stigmin: Neostigmin, Physostigmin. Trong y học,  các chất này được sử dụng để điều trị một số bệnh: bệnh nhược cơ, bệnh liệt ruột sau mổ.

+ Loại ức chế vĩnh viễn: các chất này gắn chặt vào cholinesterase thành một phức hợp bền vững, ức chế vĩnh viễn enzym này làm acetylcholin bị ứ đọng nặng và lâu dài rất nguy hiểm  có thể gây tử vong. Vì vậy, chúng là những chất độc đối với cơ thể. Trong đó, loại phổ biến nhấtì các thuốc trừ sâu gốc Phospho hữu cơ: Wolfatox, Phosphatox. Như vậy, nhiễm độc phospho hữu cơ chính là nhiễm độc acetylcholin.

- Các yếu tố ảnh hưởng lên phần sau xynap
Các yếu tố này chiếm lấy receptor của chất trung gian hóa học làm mất tác dụng của chúng và ức chế sự dẫn truyền qua xynap.Trong y học, các yếu tố này được sử dụng làm thuốc để điều trị một số bệnh:

+ Curase: chiếm lấy receptor của acetylcholin tại các xynap thần kinh vận động - cơ vân nên làm liệt cơ vân, được sử dụng để: làm mềm cơ khi mổ, điều trị bệnh uốn ván.

+ Propranolol: chiếm receptor của norepinephrin tại xynap thần kinh giao cảm - tim, được sử dụng để điều trị: Nhịp nhanh xoang, cao huyết áp. Tuy nhiên, propranolol cũng chiếm receptor của norepinephrin tại xynap thần kinh giao cảm - cơ trơn phế quản.
Vì vậy, chống chỉ định ở bệnh nhân hen phế quản.

+ Tenormin: chỉ chiếm receptor của norepinephrin tại xynap thần kinh giao cảm-tim. Vì vậy, tenormin cũng được sử dụng để điều trị tương tự như propranolol nhưng tác dụng chọn lọc đối với tim nên tốt hơn.

+ Atropin: chiếm receptor của hầu hết các xynap mà chất trung gian hóa học là acetylcholin,  được dùng  để  điều trị: Cơn  đau do co thắt  đường tiêu hóa, Nhiễm  độc phospho hữu cơ. 

Theo GTSL Người&ĐV

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...