Sinh học online, giải trí hài hước

Sự trao đổi khí ở phổi


Sự trao đổi khí ở phổi và mô

 1. Sự trao đổi khí ở phổi
      Trao  đổi khí ở phổi diễn ra ở phế nang và máu trong hệ thống mao mạch phân bố dày đặc đến màng các phế nang theo nguyên tắc khuếch tán do có sự chênh lệch áp suất của từng loại khí (áp suất riêng phần) được tính theo tỉ lệ %. Trao đổi khí ở phổi còn gọi là hô hấp ngoài. Trong phế nang áp suất riêng phần của oxy (Po2 ) là 104mmHg và Po2 trong máu đến phổi là 40 mmHg, do đó O2 từ phế nang khuếch tán sang máu. Ở máu ra khỏi phổi Po2 xấp xỉ bằng 104mmHg. Trong khi đó Pco2 trong máu đến phổi là 46mmHg, còn trong phế nang là 40mmHg, nên CO2 khuếch tán từ máu sang phổi.
Diện tích bề mặt các mao mạch ở một phổi của người lớn khoảng 60m2 và khoảng cách khuếch tán chỉ là 2 - 3μm, nhỏ hơn một nửa đường kính hồng cầu. Điều này càng tạo điều kiện cho quá trình trao đổi khí giữa phế nang và máu. 
Có một điều khá thú vị là, áp lực máu trong các mao mạch phổi luôn rất thấp, nhờ vậy mà huyết tương không bị thoát ra ngoài và không tập trung lại trong phế nang. Ngoài ra, phế nang còn có một lớp mỏng chứa phân tử các chất hoạt động bề mặt phổi - một loại phức hợp phospholipid-protein, giúp cho phế nang không bị xẹp xuống bằng cách giảm mạnh sức căng bề mặt.

2. Sự trao đổi khí ở mô
      Sau quá trình trao đổi ở phổi, máu đổ về tim, tim co bóp đưa máu đến mô. Tại đây sự trao đổi cũng tuân theo quy luật khuếch tán phụ thuộc vào áp suất riêng phần của từng loại khí. Trao đổi khí ở mô còn gọi là hô hấp trong.
Trong máu động mạch đến mô Po2 khoảng 102mmHg, Po2 ở dịch gian bào là 40mmHg, nên O2 từ máu qua dịch gian bào để vào mô. Sự khuếch tán này làm cho Po2 máu mao mạch chỉ còn 40mmHg được tập trung vào tĩnh mạch đổ về tim. Trong dịch nội bào do quá trình trao đổi chất mà Pco2 là 46mmHg và trong dịch gian bào là 45mmHg. Pco2 trong máu động mạch đến mô là 40mmHg, nên CO2 khuếch tán sang máu, vì vậy máu tĩnh mạch có Pco2 là 46mmHg.

3. Nhận xét
Quá trình phân tích trên cho thấy hiệu số chênh lệch áp suất riêng phần của O2 luôn cao hơn nhiều so với CO2 là do khả năng khuếch tán của CO2 lớn hơn O2 25 lần. Người ta thấy rằng,  đối với O2 chỉ cần chênh lệch 35mmHg đã có 6,7ml O2 khuếch tán qua mỗi cm2  màng phế nang trong 1 phút, nghĩa là khoảng 600ml O2 thấm vào máu trên toàn bộ hai lá phổi.

Trong khi đó nhu cầu của cơ thể lúc bình thường là 256 – 400ml O2 trong 1 phút, còn khi lao động nặng thì cần 400 – 500ml. Do vậy mức chênh lệch 64mmHg (ở phổi) của O2 luôn đảm bảo nhu cầu cho cơ thể. Đối với CO2 chỉ cần chênh lệch 0,03mmHg cũng đủ làm khuếch tán 256ml CO2 trong 1 phút, nên với mức chênh lệch 6mmHg (ở phổi) đã thoả mãn nhu cầu  thải CO2 ra khỏi cơ thể.

Tóm lại máu mao mạch  đến phổi chứa 10 – 12% O2 (tương  đương với 66% mức bảo hoà) và 5,5 – 5,7% CO2. Còn máu đến mô chứa 18 – 20% (ngang mức 96% bảo hoà) và chỉ còn lại 5,0 – 5,2% CO2

DOWNLOAD:

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...