Sinh học online, giải trí hài hước

Sinh học 12 [Mở rộng]: Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

a, Ánh sáng
Thực vật và các sinh vật có màu tiếp nhận năng lượng ánh sáng. Ánh sáng được xem là nhân tố cơ bản của môi trường tự nhiên, chi phối mọi nhân tố khác như nhiệt độ, khí áp, gió...


- Ánh  sáng, nhiệt độ, độ ẩm, gió... là những nhân tố của khí hậu. Chúng thay đổi theo chu kì xác định, tạo nên chiếc "đồng hồ sinh học".



- Ánh sáng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Ở các cực ánh sáng yếu nhất, còn ở xích đạo, mặt đất nhận được ánh sáng rất cao. Ở nước, cường độ ánh sáng giảm đi nhanh chóng theo độ sâu. Dưới khoảng 200m, khối nước sâu trở nên tăm tối. Ánh sáng biến đổi theo ngày đêm và theo mùa rất rõ rệt, nhất là ở các vĩ độ cao.



- Nhờ năng lượng ánh sáng, thực vật, tảo và các vi sinh vật có màu thực hiện quá trình quang hợp, tạo các chất hữu cơ đầu tiên để nuôi sống các sinh vật dị dưỡng.



Do nhu cầu ánh sáng khác nhau, thực vật phân bố theo tầng, những lớp khác nhau trong rừng hay trong khối nước. Ở vùng ôn đới hình thành cây ngày dài và cây ngày ngắn. 



Tác động của ánh sáng lên đời sống động vật được thể hiện ở chỗ xuất hiện màu sắc trên thân và mức độ phát triển của cơ quan thị giác tùy theo chúng là loài ưa hoạt động ban ngày hay loài ưa hoạt động ban đêm. Cường độ và thời gian chiếu sáng còn ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát dục ở nhiều loài động vật. 



b, Nhiệt độ



Trên bề mặt Trái Đất nhiệt độ biến đổi phụ thuộc vào sự phân bố của ánh sáng: Nhiệt độ giảm từ xích đạo đến cực, từ thấp lên cao trong tầng đối lưu của khí quyển và từ mặt nước xuống đáy sâu trong các vực nước. 



Do tác động của nhiệt và khả năng tạo nhiệt để duy trì nhiệt độ cơ thể, sinh vật được chia thành 2 nhóm: Sinh vật biến nhiệt và sinh vật đồng nhiệt (đẳng nhiệt). Sinh vật biến nhiệt có nhiệt độ cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường. Đối với động vật biến nhiệt, tổng nhiệt hữu hiệu cần thiết để hoàn thành một giai đoạn hay cả đời sống là một số hầu như không đổi. Do vậy, thời gian để hoàn thành các giai đoạn hay cả chu kì sống phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Động vật đồng nhiệt có thân nhiệt ổn định do vậy chúng có khả năng phân bố rộng rãi trên Trái Đất. 



c, Lượng mưa và độ ẩm

Lượng mưa trên bề mặt Trái Đất biến thiên phụ thuộc nhiệt độ, vĩ độ địa lí và địa hình... do đó, mưa phân bố không đều theo cả không gian và thời gian: vùng nhiệt đới xích đạo mưa nhiều; một vành đai phía trên là vùng khô hạn, đưa đến sự hình thành các hoang mạc; vùng ôn đới, lượng mưa tương đối thấp nhưng điều hòa hơn, còn ở các cực độ ngưng tụ hơi nước rất kém chủ yếu chỉ tạo ra băng và tuyết. 


Nước là môi trường sống cho các loài thủy sinh vật, độ ẩm và lượng mưa đóng vai trò sống còn cho các loài động thực vật trên cạn, quy định sự phân bố của chúng trên bề mặt Trái Đất. Đương nhiên, liên quan đến nhu cầu về nước người ta chia sinh vật thành các nhóm, gồm nhóm ưa ẩm (cây ven bờ nước, ếch nhái...), sinh vật chịu khô hạn (các cây cối và động vật sống trên các cồn cát, hoang mạc...), giữa chúng là những sinh vật ưa ẩm vừa. 



Những loài sinh vật chịu khô hạn có những đặc tính thích nghi rất tinh tế: Khả năng trữ nước trong cơ thể, khả năng giảm sự thoát hơi nước (lá cây nhỏ lại, rụng lá khi khô hạn, giảm lượng khí khổng,...), có khả năng tìm nước tốt và cuối cùng, những cây sống ở nơi quá khô hạn thì tồn tại dưới dạng hạt hay còn gọi là hiện tượng trốn hạn. 



d, Nhiệt - ẩm

Nhiệt - ẩm là 2 yếu tố cơ bản của khí hậu vì dưới ảnh hưởng của nhiệt thì nước bốc hơi. Cứ mỗi gam nước bốc hơi hết đã nhận một nhiệt lượng 540cal. Điều đó có nghĩa là hơi nước đã mang theo nhiệt, tạo nên khái niệm nhiệt - ẩm. Nước bốc hơi từ cơ thể làm mát cơ thể, nhờ đó sinh vật đồng nhiệt mới duy trì được thân nhiệt trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao. Nhiệt - ẩm tác động không chỉ lên cơ thể sống mà lên cả vật không sống trên bề mặt hành tinh: sự phong hóa của vỏ đất đá, tham gia hình thành đất, tạo ra môi trường khí hậu, quy định các vùng sống và các hoạt động sống của các loài.



e, Không khí

Môi trường không khí cũng như môi trường đất và nước, ví như chiếc vali chứa đựng mọi điều kiện cần thiết cho đời sống. Chẳng hạn, dưỡng khí chiếm gần 21% thể tích khí quyển, cần cho quá trình hô hấp; CO2 như một nguồn sống của cây xanh; N2 tuy là một khí trơ nhưng nhờ các quá trình vật lí và sinh học đã hình thành nên nguồn muối nitrat rất quan trọng cho đời sống thực vật. Quan trọng nhất trong khí quyển là sự vận động của không khí (gió, giông tố). Nhiều loài cây phát tán và thụ phấn được là nhờ giò. Gió đưa hương lôi cuốn côn trùng để thụ phấn cho hoa. Nơi gió lộng thân cây thấp, có dạng thân bò hoặc rễ chống, nhiều loài côn trùng có cánh ngắn hoặc cánh tiêu giảm. Gió lớn gây thiệt hại cho cây cối, ảnh hưởng cả đến đời sống con người.


f, Sự tác động trở lại của sinh vật lên môi trường

Sinh vật không chỉ chịu tác động của các nhân tố môi trường mà trong hoạt động sống của mình, sinh vật còn làm cho các điều kiện môi trường biến đổi có lợi cho đời sống. Điều này được thể hiện rất rõ về vai trò của sinh vật trong sự hình thành đất. Sự phát triển của các rạn san hô trong 500 triệu năm qua trong vùng biển nông ấm nóng đã làm cho diện mạo Trái Đất thay đổi rất lớn. Thảm thực vật làm cho đất tơi xốp, tăng độ ẩm và tăng mùn bã hữu cơ. Những con giun đất không chỉ cày xới đất để làm nơi sống mà còn nuốt mùn bã và đất để lựa chọn thức ăn, sau đó thải "phân giả" giàu các chất hữu cơ khác. Đacuyn gọi chúng  là những "chiếc lưỡi cày vĩnh cữu".


Con người là một thành viên như bao thành viên khác của hệ sinh thái không chỉ làm thay đổi các nhân tố môi trường theo hướng có lợi cho đời sống của mình mà còn cải tạo môi trường một cách hiệu quả: biến đổi môi trường thiên nhiên hoang sơ thành môi trường văn hóa như thành phố, công viên, các lâu đài, đồng ruộng...

Theo SGV 12 nâng cao

 DOWNLOAD:

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...