Sinh học online, giải trí hài hước

Quá trình chuyển hóa lipit



1. Chuyển hoá lipit trong cơ thể (hình 6.2)

Nguồn lipid (mỡ) của cơ thể là lipit của thức ăn hấp thu ở ruột, ngoài ra còn một lượng lớn lipit và lipoid được tạo thành ngay trong cơ thể từ gluxit nếu thừa gluxit, hoặc có khi cả từ protid. Lipit sau khi hấp thu có thể theo nhiều con đường:

-  Lipit được oxy hoá hoàn toàn cho CO2, H2O và nhiều năng lượng. Acetat hoạt động (Acetyl CoA) là một chất chuyển hoá trung gian của mỡ có thể dùng tổng hợp nhiều chất.
Chuyển hóa lipit

-  Lipit được dự trữ dưới dạng mỡ trung tính. Kho dự trữ mỡ có thể rất nhiều, tới 10 % khối lượng cơ thể (dự trữ gluxit chỉ dưới 0,5 kg). Mỡ dự trữ nằm trong tế bào lấn chỗ của bào tương, mỡ dự trữ có thể được lấy vào trong máu, mỡ (adipocyte) chứa trong các mô đệm dưới da (bụng, da, gan) để biến thành glycogen. Mỡ tham gia cấu tạo các tổ chức: mỡ hấp thu và cholesterid là thành phần chủ yếu của màng tế bào, vào trong cơ thể sẽ phân phối đi khắp các tổ chức, dùng làm nguyên liệu kiến tạo như lecithin. Lecithin có ở sợi thần kinh, các sphingomyelin và cerebrosid có nhiều ở hệ thần kinh trung ương, các steroid tham gia cấu tạo nhiều kích tố quan trọng. Mỡ cấu tạo không biến đổi đáng kể khi ta nhịn đói, gọi là thành phần hằng định, mỡ dự trữ bị sử dụng khi nhịn đói gọi là thành phần biến đổi. Nguồn gốc mỡ dự trữ là do từ mỡ ăn vào và từ gluxit (lợn béo do nuôi bằng gluxit).

2.Mối liên quan giữa chuyển hoá lipit và gluxit
    a). Gluxit chuyển hoá thành lipit
Ta đã biết gluxit ăn vào cơ thể chuyển hoá thành mỡ dự trữ, ta cũng biết gluxit và lipit có một bước chuyển hoá trung gian chung là acid acetic. Vậy có con đường chuyển hoá gluxit qua acid pyruvic và acid acetic thành acid béo. Con đường chuyển hoá đó được xúc tiến bởi insulin và bị ức chế bởi kích tố tiền yên. Triose do dị hoá gluxit cũng có thể chuyển hoá thành glycerol tham gia tổng hợp lipit.

    b). Lipit chuyển hoá thành gluxit
Glycerol của lipit có thể vào con  đường chuyển hoá gluxit và xây dựng glucose hay glycogen. Theo con đường này 100g lipit chỉ chuyển thành 12g glucose của máu. Khi nhịn đói, tỷ lệ chuyển thành glucose có thể cao hơn.Nghiên cứu bằng đồng vị phóng xạ cho thấy acid acetic (từ mỡ)  được gan dùng xây dựng glucose. Tuy vậy, con  đường chuyển acid béo thành glucose không rõ rệt,  điều này giúp ta hiểu hiện tượng thông thường là: cho động vật (lợn) ăn nhiều gluxit để thu hoạch mỡ, thì rõ ràng lợi hơn bất cứ cơ thể nào tiêu thụ mỡ để cho ta gluxit.

3. Sự phụ thuộc của chuyển hoá lipit đối với gluxit
 Muốn lipit được dị hoá hoàn toàn trong gan qua Acetyl CoA thì cần cung cấp đầy đủ acid oxaloacetic  để "xúc tác" cho chu trình Krebs. Lipit không thể cung cấp acid oxaloacetic vì phản ứng acid pyruvic sang acid acetic không đảo ngược được. Vậy nguồn chủ yếu cung cấp acid oxaloacetic là gluxit qua a.pyruvic, ý kiến này được phát biểu rất hình tượng là "mỡ cháy trên ngọn lửa của gluxit". Như vậy giảm oxy hoá gluxit ở gan gây giảm oxy hoá hoàn toàn acetyl CoA, mà không gây giảm tốc độ sản xuất acetyl CoA, hơn nữa sự sản xuất acetyl CoA lại tăng vì lúc này chỉ còn mỡ là nguồn năng lượng chủ yếu. Những mảnh 2 carbon là acetyl CoA rất hoạt động đó không thể tích luỹ được mà tập hợp thành acid acetoacetic CH3-CO-CH2-COOH gây ứ đọng  các thể ceton.
 Tóm lại, mỗi khi tỷ lệ sử dụng gluxit so với sự dùng lipit trong gan bị giảm thấp như trong bệnh đái tháo đường, khi nhịn đói v.v.. thì đưa đến bệnh ceton.

4. Nhu cầu và vai trò sinh lý của lipit
Lipit có giá trị năng lượng cao, 1g lipit oxy hoá cho 9,3 Kcal. Mỗi ngày người trưởng thành cần khoảng 100g, khi lao động thể lực nặng nhọc cần đến 115- 165g lipit. Lớp mỡ dưới da cũng là lớp cách nhiệt rất tốt giúp ta chống rét. Lipit còn có tác dụng nuôi dưỡng và tạo hình. Mỡ tham gia cấu tạo cơ thể. Mỡ là dung môi hoà tan của nhiều sinh tố quan trọng như A, D, E, K...

5. Điều hoà chuyển hoá lipit
 Lipit trong cơ thể luôn được thay đổi do mỡ cũ bị chuyển hoá và mỡ mới được thu nhận theo thức ăn . Sự thay đổi lipit trong cơ thể chịu nhiều ảnh hưởng khác nhau, trước hết là hệ thần kinh, hệ nội tiết, chức năng của gan và liên quan với chuyển hoá gluxit.

 Cấu trúc thần kinh điều hoà chuyển hoá lipit nằm trong vùng dưới đồi. Sự điều hoà chuyển hoá lipit của vùng dưới đồi, có lẽ thông qua hoạt động của các tuyến nội tiết. Khi tuyến tụy sản xuất ít insulin, quá trình chuyển hoá gluxit giảm, mỡ dự trữ sẽ được huy động để oxy hoá sinh năng lượng thay cho gluxit.

Ngược lại, khi tuyến tụy tăng tiết insulin, thì quá trình chuyển hoá gluxit thành mỡ dự trữ lại được tăng cường. Cortisol của vỏ tuyến thượng thận, hormone tuyến giáp, cũng như GH và ACTH của thuỳ trước tuyến yên đều có tác dụng huy động mỡ dự trữ vào quá trình chuyển hoá.

Gan là cơ quan hoạt động mạnh nhất trong chuyển hoá lipit. Gan là nơi chủ yếu để phân giải và tổng hợp các acid béo, phospholipit và cholesterol. Quá trình chuyển hoá lipit cũng có thể bị rối loạn do trong thức ăn thiếu gluxit và nhiều lipit hoặc không đủ các acid béo cần thiết như acid linoleic, acid arachidonic. Trong thức  ăn có nhiều cholesterol, cystin, serin, thiamin, biotin cũng có thể gây rối loạn chuyển hoá lipit, gây tích mỡ trong gan.


Gan là cơ quan hoạt động mạnh nhất trong chuyển hoá lipid. Gan là nơi chủ yếu để phân giải và tổng hợp các acid béo, phospholipid và cholesterol. Quá trình chuyển hoá lipid cũng có thể bị rối loạn do trong thức ăn thiếu gluxit và nhiều lipid hoặc không đủ các acid béo cần thiết như acid linoleic, acid arachidonic. Trong thức  ăn có nhiều cholesterol, cystin, serin, thiamin, biotin cũng có thể gây rối loạn chuyển hoá lipid, gây tích mỡ trong gan. 

DOWNLOAD:

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...