Sinh học online, giải trí hài hước

Quá trình chuyển hóa gluxit


Chuyển hoá gluxit 

1. Chuyển hoá gluxit trong cơ thể (hình 6.1)
Trong cơ thể, nồng độ glucose trong máu không đổi 0,1 - 0,12g%. Sau khi được hấp thu ở ruột, các monosaccharide theo máu đến các tổ chức để được tổng hợp thành glycogen cần cho sự xây dựng nguyên sinh chất. Kho dự trữ glycogen chủ yếu là gan và cơ, ở gan dự trữ 82% glycogen của cơ thể. 

       - Gluxit là nguồn năng lượng chủ yếu cơ thể dùng để sinh hoạt và sản xuất công. Một phần lớn protid và lipid trước khi bị phân huỷ hoàn toàn thường biến thành gluxit trong cơ. Ngoài ra sản phẩm phân huỷ của protid và lipid từ ống tiêu hoá sẽ đến gan và biến thành glycogen. Trao đổi gluxit ảnh hưởng lớn đến trao đổi protid, lipid và nước.

Quá trình chuyển hóa gluxit

  - Gluxit rất dễ bị phân huỷ, sự phân huỷ gluxit giữ cho nhiệt độ cơ thể không đổi và là nguồn năng lượng chủ yếu của cơ.

  - Gluxit cần cho sự hoạt động bình thường của hệ thần kinh. Nếu lượng đường trong máu giảm thì nhiệt độ cơ thể sẽ hạ xuống, cơ sẽ yếu, hoạt động thần kinh bị biến loạn (trường hợp bị choáng hạ đường huyết, đường huyết  hạ ở mức 45mg% ).

  - Trong các tổ chức, một phần nhỏ gluxit do máu đưa đến được dùng để phóng thích năng lượng. Nguồn trao đổi gluxit ở tổ chức chủ yếu là glycogen. Lúc cơ làm việc, cơ dùng dự trữ glycogen chứa ngay trong cơ. Chỉ khi nào dự trữ ấy hết, mới bắt đầu dùng thẳng glucose do máu đưa đến (glucose được giải phóng từ glycogen trong gan). Lúc thôi làm việc cơ lại tiếp tục tích trữ glycogen từ glucose của máu, gan lại thu nhận monosaccharid từ ống tiêu hoá đưa lại, đồng thời phân huỷ protid và lipid để xây dựng lại dự trữ glycogen của mình. Sự phân huỷ glucose trong cơ thể có thể xảy ra mà không cần đến O2 (phân huỷ thành a.lactic) hoặc có O2 thành CO2 và nước. Sự phân huỷ gluxit không cần O2, có acid phosphoric tham gia rất quan trọng đối với hoạt động của cơ. Nếu trong thức ăn thiếu gluxit thì cơ thể có thể chuyển hoá để tạo gluxit từ protid và lipid.

2. Nhu cầu và ý nghĩa chuyển hoá của gluxit
Trong các loại thức ăn thì gluxit là nguồn năng lượng dễ kiếm và rẻ tiền nhất, lại được hấp thu và tiêu hoá dễ dàng, với một khối lượng lớn. Khi cơ thể không có đủ gluxit thì sự oxy hoá quá nhiều mỡ để có năng lượng cho hoạt động sống sẽ làm sản sinh nhiều thể ceton gây toan huyết. Khi không đủ gluxit, cơ thể phân huỷ nhiều prôtêin tổ chức, sinh ra nhiều amoniac, độc đối với cơ thể. Một gam gluxit khi được oxy hoá cho 4,1 kcalo.  

3. Tóm tắt vài điểm về chuyển hoá gluxit
 - Giai đoạn I: Dị hoá polysaccharid thành glucose.
 - Giai đoạn II: Dị hoá glucose đến acid pyruvic gọi là đường phân (yếm khí). Đường phân  bao gồm cả dị hoá glucose lẫn glycogen đến a. pyruvic.
 Glucose được phosphoryl hoá (nhờ enzyme hexokinase) thành G-6-P, glycogen được phân huỷ thành G-1-P rồi cũng thành G-6-P. Từ G-6-P trở xuống, dị hoá glucose và glycogen y hệt nhau.  * Nếu thiếu O2 thì a. pyruvic bị khử thành acid lactic (C3H6O3).
 * Nếu đủ O2 thì a.pyruvic sẽ tiếp tục bị oxy hoá cho CO2 và H2O.
 - Giai đoạn III là dị hoá oxy hoá a.pyruvic thành CO2 và H2O (chu trình Krebs), đây là giai đoạn chuyển hoá cuối cùng, chung cho cả lipid và protid. Dị hoá ái khí (có tham gia của oxy), acid pyruvic cho rất nhiều năng lượng.

4. Điều hoà chuyển hoá gluxit
 Nói đến điều hoà chuyển hoá gluxit, thường là nói về sự điều hoà mức đường trong máu (đường huyết). Bình thường mức đường huyết dao động từ 80 - 100mg %. Nếu mức đường huyết vượt quá 120mg % thì gọi là tăng đường huyết, còn khi mức đường huyết thấp hơn 60mg % thì gọi là hạ đường huyết.  Mức đường huyết được điều hoà do cơ chế thần kinh thể dịch phức tạp. Hệ thần kinh thông qua hệ giao cảm tác dụng lên gan, tụy và thượng thận mà điều hoà đường huyết.
 
Các kích tố của tuyến nội tiết tác dụng lên nhiều khâu của chuyển hoá gluxit. Hormon của vỏ tuyến thượng thận (glucocorticoid)  cũng có tác dụng làm tăng đường huyết. Các glucocorticoid tác dụng theo hai cơ chế: giảm mức sử dụng glucose trong các mô và tăng quá trình sinh đường mới. Glucagon - một hormon của tuyến tụy nội tiết cũng có tác dụng làm tăng đường huyết giống như tác dụng của adrenalin. Các hormon khác như ACTH, STH, thyroxin cũng tham gia vào quá trình chuyển hoá gluxit làm tăng lượng đường trong máu.

Tác dụng ngược lại các hormon kể trên là insulin - một hormon của tuyến tuỵ nội tiết. Tác dụng của insulin là làm tăng tính thấm của màng tế  bào đối với glucose, làm hoạt hoá hexokinase và còn là yếu tố cảm ứng tổng hợp glucose, do đó đẩy nhanh quá trình phosphoryl hoá, tăng chuyển hoá glucose trong tế bào và làm giảm đường huyết. Gan có vai trò rất cơ bản trong việc duy trì mức đường huyết. Gan là nơi sinh glucose mới, tức là glucose hình thành từ các chất không là gluxit (chủ yếu là từ prôtêin).  


Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...