Sinh học online, giải trí hài hước

Cơ chế tác dụng của hoocmôn


  Trước những năm 1960, cơ chế tác động của hormon chưa được phát hiện một cách rõ ràng. Người ta chỉ mới nêu được những đường  hướng tác dụng của chúng và tựu trung lại có 5 hướng sau:

- Điều hoà trao đổi chất 
Thí dụ: Adrenaline làm tăng đường huyết, iusuline làm giảm đường huyết, paratyroxine  làm tăng can xi và giảm phốt pho huyết.


- Ảnh hưởng  điều hoà  đến hoạt động cơ năng của một số cơ quan bộ phận hoặc giữa tuyến nọ với tuyến kia.

Thí dụ: adrenaline tăng nhịp tim, ADH làm tăng tái hấp thụ nước ở ống thận nhỏ. ACTH của tuyến yên làm tăng hoạt động cơ năng của vỏ thượng thận và kích thích vỏ thượng thận tiết cortisol.

- Ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng phát dục của mô bào 
  Thí dụ: STH của thuỳ trước tuyến yên làm tăng sự sinh trưởng cơ thể nói chung, đặc biệt với mô cơ xương. TSH thúc đẩy phát dục của mô bào tuyến giáp trạng.

- Ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục của cơ thể  Biểu hiện cụ thể của đường hướng tác động này là vai trò của estrogene và androgene đối với đặc tính sinh dục thứ cấp của con cái và của con đực.

- Ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý của cơ thể 
Thí dụ: Adrenaline gây hồi hộp; estrogen gây nên hiện tượng động dục của gia súc cái. 
Từ năm 1960, Haynes và sau  đó là Surtherland (1962) tìm ra vai trò của enzyme adenylatecyclase thường xuyên có mặt trên màng tế bào, những năm sau Surtherland và những tác giả khác như Ashman (1963) Price (1967), Goldberg (1969) tìm ra AMP vòng thì cơ chế tác động của hormon được sáng tỏ. Có 3 cơ chế tác động là: hormon- màng, hormon- gen và hormon- enzyme.

 Hormon – Màng 
   Tác dụng trước tiên của hormon lên màng tế bào là thông qua cơ chế làm biến đổi tính thấm thấu của màng và xúc tác cho sự vận chuyển tích cực những chất qua màng. Song cơ chế tác động hormon màng thông qua AMP vòng được nghiên cứu nhiều hơn cả là tác dụng của hệ thống hormon – adenylatecyclase – AMP vòng lên trao đổi chất.

 -Tác dụng của hormon đến trao đổi đường 
       Như ta  đã biết, hàm lượng  đường glucose trong máu tăng là do  ăn nhiều  đường, nhưng cơ chế nội sinh quan trọng là sự phân giải glycogen dự trữ có ở gan thành glucose đưa vào máu. 
Đầu tiên hormon (adrenaline, glucagone)  được coi là chất thông tin thứ nhất (the fist messager) hoạt hoá men adenylatecyclase trên màng tế bào. Adenylatecyclase hoạt hoá khuếch đại thông tin vào bào tương và chuyên ATP thành AMP vòng. AMP vòng được coi là chất thông tin thứ hai (the second messager ) tác động trực tiếp lên trao đổi đường băng cách nó hoạt hoá enzyme kinase. Enzyme này chuyển men phosphorylase B (dạng không hoạt động) thành phosphorylase A (dạng hoạt động). Phosphorylase A  đến lượt minh xúc tác phân giải glycogen thành G-1-P. Từ  đó dưới tác dụng của enzyme G-6-phosphatase, G-6-P được chuyển thành glucose.

- Tác dụng của hormon lên trao đổi mỡ 
         Một số hormon như lipocaine, thyroxine liều cao có tác dụng tiêu mỡ. Cơ chế tiêu mỡ được biết là thông qua  AMP vòng. Ta biết rằng lipid muốn phân giải thành glyxerol và axít béo phải có sự xúc tác của enzyme triglyxerol – lipase. Enzyme này được hoạt hoá bởi AMP vòng. Trong một số trường hợp, cũng cần dùng đến những chất đối kháng, làm giảm lượng AMP vòng, thí dụ ở một vài chứng choáng (sốc), làm tiêu nhanh lipid có thể gây nên ức chế hô hấp mô bào. Lúc này cho thở bằng oxygene nguyên chất chưa đủ mà phải tìm cách giảm lượng AMP vòng trong cơ thể bằng cách tiêm chất đối kháng vớinó như axit nicotenic, prostaglandin.

Hormon - gen 
    Cơ chế điều hoà di truyền của hormon sinh tổng hợp protein qua con đường hormon - gen là một vấn đề lý thú, thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà sinh học. Có những vấn đề đã được giải quyết nhưng cũng còn những vấn đề đang còn là các giả thiết. 
Có thể trình bày tóm tắt như sau: 

Để tiến hành sinh tổng hợp protein, trước tiên xoắn kép DNA phải tách đôi mới có được gen mã hoá tổng hợp ARN thông tin. Trên xoắn kép DNA có những gen cấu trúc SG1, SG2, SG3… Mỗi gen cấu trúc giữ một mật mã riêng. Gen cấu trúc chỉ hoạt động khi gen vận hành O mở. 

Gen vận hành cũng đươc gọi là gen khởi động, gen này chịu sự chi phối của gen điều khiển RG. Nó điều khiển bằng cách sản sinh chất ức chế R (gọi là chất điều hành). Chất này có hai đầu R vô hoạt và đầu kia là R’ hoạt động. Mới đây ngưòi ta con tìm ra giữa gen khởi động O và gen điều khiển RG còn có vùng khởi động P (promtor) để cho ARNpolymerase nhận biết trong quá trình phiên mã. Hormon giúp  tạo  ra AMP vòng có vai trò trong việc mở hoặc khoá gen bằng cách bám vào đầu R’ (mở gen) hoặc đầu R (khoá gen) của chất điều hành để cho phép hay không, quá trình sinh tổng hợp protein thực hiện. Khi hormon bám vào R’ (hoạt động) thì chất điều hành này không ức chế được gen O (mở gen) ARN polymerase từ vùng khởi động P có thể qua O mà vào các gen cấu trúc SG, có như vậy xoắn kép DNA mới tách đôi được và truyền mật mã cho sự tổng hợp ARN thông tin nhằm chuyển mật mã đến riboxom để tiến hành sinh tổng hợp protein. Khi hormon bám vào đầu R (vô hoạt) nghĩa là đầu R’ của chất điều hành vẫn hoạt động thì nó ức chế gen O (khoá gen). Quá trình sinh tổng hợp protein không xẩy ra được.

Hormon - enzyme 
   Trong nhiều trường hợp hormon tác dụng như một co-enzyme hoặc tăng cường hoặc kim hãm hoạt tính của một enzyme nào đó trong phản ứng sinh hoá diễn ra trong cơ thể. Dưới đây ta hãy xem xét một số trường hợp làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của hormon – enzyme.

  Hệ thống NADF – transhydrogenase         NADP+ dehydrogenase
Nghiên cứu ảnh hưởng của estrogen lên hoạt tính của enzyme này ở mô nhau thai tách rời Hagerman (1959) và Hechter (1960) thấy rằng hormon xúc tác cho sự vận chuyển hydro từ NADFH2 đến NAD. Enzyme này có trong nhiều loại mô khác nhau, các tác giả đó cho rằng trường hợp xúc tác chuyển H của estrogen có thể xẩy ra trong nhiều loại mô có chức năng sinh dục (như buồng trứng, tử cung, tuyến vú ).
                         estron             + NADFH2  = estradiol + NADF 
                         estradiol       + NAD          = estron      + NADH2
                         ______________________________________           
            Rút ra : NADFH2     + NAD          =  NAD      + NADH2

Hiệu quả này rất quan trọng, nó xúc tác cho qua trình chuyền điện tử hydro trong mạch hô hấp, tăng chuyển hoá năng lượng, tăng hô hấp mô bào. Những biểu hiện hưng phấn mạnh của động vật cái trong thời kỳ động dục có lẽ thông qua cơ chế tác động nói trên của estrogen. 

DOWNLOAD:

1 nhận xét:

Nặc danh nói...

bài viết này còn khá sơ sài!cần nói chi tiết hơn nữa sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn.vui lòng bổ sung thêm nhé, vì tôi nghĩ bạn có nhiều kiến thức trong lĩnh vực này! cảm ơn!!!.....

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...