Sinh học online, giải trí hài hước

Các vấn đề pháp lí của công nghệ sinh học


Các vấn đề pháp lý của công nghệ sinh học hiện đại

Công nghệ DNA tái tổ hợp đã giúp các nhà khoa học thay đổi cơ chế tiến hóa của tự nhiên, sáng tạo ra sản phẩm của gen, tạo ra các dạng sinh vật mới. Ngày càng có nhiều bằng chứng hiển nhiên về  lợi  ích của công nghệ DNA  tái  tổ hợp. Tuy nhiên,  cũng phải  cân nhắc đến những nguy  cơ  tiềm tàng của nó, và thực tế cũng đã nảy sinh một số vấn đề pháp lý quan trọng buộc chúng ta phải xem xét lại một cách thận trọng.


Chẳng hạn, chúng  ta có  thể  tham khảo hệ  thống quản  lý đối với các sản phẩm cây trồng của công nghệ sinh học hiện đại ở Mỹ, nơi mà lĩnh vực công nghệ sinh học được đầu tư và phát triển tốt nhất trên thế giới.  Hệ thống quản lý của Mỹ là một bộ phận quan trọng nhằm đảm bảo an toàn lương thực. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Cục Bảo vệ Môi trường (EPA), Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đóng vai trò quản lý các loại lương thực có nguồn gốc thực vật được tạo ra nhờ công nghệ  sinh  học.  Theo  Đạo  luật  Lương  thực,  Dược  phẩm  và  Mỹ  phẩm (FD&C), FDA có thẩm quyền bảo đảm độ an toàn của tất cả các lương thực trong nước và nhập khẩu cho người và động vật  trên  thị  trường Mỹ. Ngoại trừ  thịt  gia  súc-gia  cầm  và một  số  sản  phẩm  trứng,  những  hạng mục  này thuộc  phạm  vi  điều  tiết  của USDA. Tuy  nhiên,  độ  an  toàn  của  dư  lượng thuốc thú y trong thịt gia súc, gia cầm và thủy sản là do FDA quản lý. Thuốc trừ sâu lại chủ yếu do EPA điều tiết. Cơ quan Kiểm tra Sức khoẻ Thực vật và  Động  vật  của  USDA  (APHIS)  có  chức  năng  giám  sát  an  toàn  nông nghiệp và an toàn môi trường trong trồng trọt và thử nghiệm tại hiện trường các giống cây trồng được tạo ra nhờ công nghệ sinh học.

Các  loại  lương  thực và  thành phần  lương  thực được  tạo  ra nhờ công nghệ sinh học phải đáp ứng những tiêu chuẩn an toàn tương tự như các tiêu chuẩn mà Đạo  luật FD&C áp dụng đối với các cây  trồng được  tạo  ra  theo phương  pháp  lai  giống  thông  thường. Điều  này  có  nghĩa  là  các  sản  phẩm công nghệ sinh học cũng phải an toàn giống như các sản phẩm truyền thống trên  thị  trường. FDA có quyền  loại  trừ một  loại  lương  thực khỏi  thị  trường hoặc trừng phạt những người buôn bán loại lương thực đó nếu nó gây ra rủi ro đối với  sức khỏe cộng đồng. Cần  lưu  ý  rằng Đạo  luật FD&C quy định những  người  áp  dụng  công  nghệ  sinh  học  phải  chịu  trách  nhiệm  pháp  lý nhằm đảm bảo rằng những lương thực mà họ bán cho người tiêu dùng phải an toàn và đáp ứng tất cả các yêu cầu về pháp lý.

1. An toàn sinh học  
a. Sự chuyển gen bằng hạt phấn
Cho  tới  nay  không  có  hạt  phấn  của  loại  cây  trồng  biến  đổi  gen  nào được  hạn  chế  khả  năng  phát  tán.  Các  phương  thức  quản  lý  như  cách  ly không gian và thời gian có thể hạn chế sự lưu chuyển gen (gene flow) giữa cây trồng, hạn chế hạt sót lại trong đất và cây sót lại sau khi thu hoạch. Việc sử dụng vùng cách  ly, rào cản cây  trồng và các rào cản  thực vật khác giữa nguồn tạo và nơi nhận hạt phấn cũng có thể giảm mức độ phát tán hạt phấn.

Thời gian hạt phấn ở  trong không khí cũng khá dài, do đó có  thể phát  tán đến khoảng cách khá xa. Tuy nhiên, điều kiện  thời  tiết và môi  trường  thay đổi  có  thể gây  ra  sự phát  tán ở những khoảng cách xa hơn nữa. Các biện pháp cách ly sinh học đang được phát triển nhằm xác định liệu sự sinh sản ở cây trồng có thể kiểm soát được hay không để tránh sự giao lưu gen qua hạt hoặc hạt phấn.

Đặc  biệt ở  các  giống  hoặc  dòng  có  cây  bất  dục  đực,  sẽ  xảy  ra  hiện tượng lai xa với giống biến đổi gen hữu thụ ở một tần số cao hơn và khoảng cách xa hơn so với giống  truyền  thống. Sự  tích  lũy gen  (gene stacking) đã được quan  sát ở  cây  trồng và người  ta dự đoán  là cây  trồng mang gen đa kháng sẽ trở nên phổ biến sau khi cây trồng chuyển gen được phép đưa vào thị trường, và vì vậy cây mọc hoang biến đổi gen sẽ phải cần các biện pháp diệt cỏ khácCác nghiên cứu cho  thấy phần  lớn sự thụ phấn chéo xảy ra ở khoảng cách  ngắn  và  khả  năng  thụ  phấn  thành  công  giảm  theo  hàm  mũ  so  với khoảng cách  từ nguồn phát ra hạt phấn. Nhưng  trên phạm vi nông  trại vẫn có  sự  lưu chuyển gen, mặc dù mức độ xảy  ra  rất  thấp ở một khoảng cách khá xa, vì vậy sự tách biệt hoàn toàn về mặt di truyền là rất khó duy trì.

Trong  khi  hạt  phấn  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  sự  phát  tán  theo không gian thì hạt giống đóng vai trò quan trọng trong sự phát tán theo thời gian. Do đó, khi cách ly cây trồng chuyển gen với cây trồng không chuyển gen phải tính đến chuyện trước đó cây trồng chuyển gen có được trồng trên cùng mảnh đất đó không và tập quán canh tác có gây ra sự di chuyển các hạt giữa các mảnh ruộng hay không.

Ngoài ra, sự lưu chuyển gen giữa cây biến đổi gen và họ hàng của nó còn  tùy  thuộc vào  loại  tính  trạng gen chuyển quy định, đặc điểm  sinh học của cây (thụ phấn chéo hoặc tự thụ phấn) và bối cảnh nông nghiệp (hệ thống cây trồng, tổ chức không gian giữa các thửa ruộng). 

b. Sự bền vững của DNA trong đất
DNA của cây chuyển gen có thể được phóng thích vào môi trường từ các nguyên liệu thực vật đã già hoặc mục nát. Vấn đề này đã được khảo sát ở một số cây chuyển gen như thuốc lá (aacC1), hoa dã yên (NOS-nptII) và củ cải đường (bar/TR1, TR2/nptII, 35S/BNYVV-cp). Sự bền vững của cấu trúc DNA  trong đất được phát hiện bằng cách  tách chiết DNA  trực  tiếp  từ đất,  sau  đó  khuếch  đại  cấu  trúc  này  bằng  kỹ  thuật PCR. Chọn  lọc  primer thích hợp cho phép phát hiện rõ ràng cấu trúc chuyển gen bên cạnh các gen xuất hiện tự nhiên. Với phương pháp này sự hiện diện của cấu trúc DNA có thể được phát hiện nhưng không  có  thông  tin nào về  sự hiện diện  của nó trong nguyên  liệu  thực vật mục nát, có  thể do DNA  tự do đã được hấp  thụ vào bề mặt đất. DNA của cây củ cải đường chuyển gen được phát hiện trong mẫu  đất  ở  vị  trí  đã  không  sử  dụng  6,  12  và  18  tháng  sau  khi  cây  củ  cải ường bị  cày  lấp  trong đất. Người  ta  cũng đã  tìm  thấy DNA  cây  thuốc  lá chuyển gen ở  trong đất  sau hơn 1 năm  thu hoạch. Trong khi đó DNA của hoa dã yên chuyển gen chỉ có  thể phát hiện vào  thời điểm 2  tháng sau khi cây được cày lấp trong đất.

Mặc dù chỉ có một vài khảo sát về sự bền vững của DNA cây chuyển gen ở trong đất, nhưng sự bền vững của cấu trúc trong một thời gian dài có thể được chứng minh rõ ràng.  

c. Chuyển gen ngang từ thực vật vào vi sinh vật đất
Chuyển gen ngang (horizontal gene transfer) là hiện tượng chuyển các gen hoặc nguyên liệu di truyền trực tiếp từ một cá thể riêng biệt vào một cá thể khác bằng các quá  trình  tương  tự sự gây nhiễm. Phân biệt với một quá trình bình  thường  là chuyển gen dọc  (vertical gene  transfer)-từ bố mẹ vào con  cái-xuất  hiện  trong  quá  trình  sinh  sản. Chuyển  gen  ngang  trong  phần này đề cập đến DNA ngoại lai của cây chuyển gen hiện diện ở trong đất, vi khuẩn phát  triển khả năng để nhận gen này và cuối cùng, các  trình  tự này được hợp nhất trong genome của vi khuẩn.

Nguy  cơ  của  công  nghệ  di  truyền  đó  là  làm  tăng  tiềm  năng  của  sự chuyển gen ngang qua các loài không họ hàng. Các cơ chế tế bào cho phép các gen ngoại lai xen đoạn vào genome của một loài nào đó. Các gen kháng thuốc diệt cỏ hoặc kháng kháng sinh của vi khuẩn thường được sử dụng như là các chỉ thị chọn lọc đối với cây chuyển gen. Vì thế, chuyển ngang từ thực vật vào vi sinh vật của các gen kháng như thế thường được xem như là một hiệu ứng  tiềm  tàng không mong muốn giữa cây chuyển gen và các vi sinh vật đất. 

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có bằng chứng  rõ  ràng về việc chuyển gen  từ  thực vật vào các vi sinh vật. Hiện nay, các nghiên cứu an  toàn sinh học (biosafety) về chuyển gen ngang  từ cây chuyển gen vào vi sinh vật (vi khuẩn và nấm) có hai hướng chính là tìm hiểu cơ chế chuyển gen từ thực vật vào vi sinh vật và đánh giá các hậu quả sinh thái của nó. 

Cơ chế chủ yếu của việc chuyển gen từ thực vật vào vi sinh vật là quá trình biến nạp tự nhiên đòi hỏi sự hấp thụ DNA tự do. Vi khuẩn đất có thể biến nạp  tự nhiên và hợp nhất DNA ngoại  lai  trong genome của mình. Để chuyển gen từ thực vật vào vi sinh vật ở điều kiện đồng ruộng, không phải chỉ có cơ chế cho phép hấp  thụ và sao chép  trong một vật chủ mới mà sự chọn  lọc vật chủ để biểu hiện một  tính  trạng mới  là quan  trọng nhất. Phát hiện chuyển gen ngang có  thể  thực hiện bằng cách phân  tích vi khuẩn đất sau giai đoạn nuôi cấy đầu tiên.  

d. Chuyển gen từ thực vật vào virus
Kết  quả  đầu  tiên  về  cây  chuyển  gen  biểu  hiện  prôtêin  vỏ  của  virus khảm  thuốc lá (TMV) đã ngăn chận sự phát  triển của bệnh xuất hiện trong năm 1986. Phương  thức này  sau đó đã được sử dụng để  tạo  ra  tính kháng cho các loại virus khác nhau, tuy nhiên các nhà di truyền học đã đặt câu hỏi về sự an toàn của cây trồng chuyển gen ngay từ những ngày đầu tiên. Nguy cơ  rõ  rệt nhất  là  tiềm năng  tạo  ra các virus gây nhiễm mới bằng  sự  tái  tổ hợp, ví dụ: gen chuyển của virus (viral transgene) liên kết hoặc trao đổi các phần với nucleic acid của các virus khác. Do vỏ prôtêin không ngăn được virus xâm nhập vào tế bào thực vật, gen chuyển (transgene) sẽ được tiếp xúc với các nucleic acid của nhiều virus được mang  tới  thực vật bởi các vector côn trùng (insect vector).
Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng các virus  thực vật có  thể  tấn công một loạt các gen virus khác nhau từ cây chuyển gen. 

Chẳng hạn:
- Virus  gây  bệnh  khảm  hoại  tử  ở  cây  cỏ  ba  lá màu  đỏ  (red  clover necrotic mosaic virus-RCNMV) dạng khiếm khuyết đã  thiếu gen cho phép nó chuyển từ tế bào này đến tế bào khác (vì thế không gây nhiễm được) đã tái  tổ  hợp  với  một  bản  sao  của  gen  đó  trong  cây  thuốc  lá  chuyển  gen Nicotiana benthamiana, và đã sinh sản các virus gây nhiễm.

- Cây cải Brassica napus chuyển gen VI, một nhân tố hoạt động dịch mã, của virus khảm súp-lơ (cauliflower mosaic virus-CaMV), đã  tái  tổ hợp với  phần  bổ  sung  của  virus  thiếu mất  gen  đó,  và  tạo  ra  virus  gây  nhiễm trong 100% cây chuyển gen.

- Sự  tái  tổ hợp  giữa CaMV dạng hoang dại và  dạng  chuyển  gen VI được chứng minh trong N. bigelovii. Ít nhất một trong số các virus tái tổ hợp có độc tính hơn dạng hoang dại.

- Cây N.  benthamiana  biểu  hiện một  đoạn  gen  prôtêin  vỏ  của  virus CCMV (cowpea chlorotic mottle virus) đã tái tổ hợp với virus khiếm khuyết thiếu gen đó.  

Nhiều khảo sát cho  thấy  trong các  thí nghiệm có CaMV  tần số  tái  tổ hợp cao hơn nhiều so với các virus khác. Trong khi CCMV tái tổ hợp được phục hồi từ 3% cây chuyển gen N. benthamiana, thì CaMV tái tổ hợp được phục hồi từ 36% cây chuyển gen N. bigelovii. Người ta nghi ngờ rằng sự đứt gãy DNA sợi đôi có thể xảy ra trong trường hợp tái tổ hợp ở CaMV do thực tế là DNA chuyển gen bao gồm cả promoter CaMV 35S.

2. An toàn thực phẩm
Các giống  cây  trồng chuyển gen ngày càng được phát  triển nhờ vào các công cụ của công nghệ sinh học hiện đại. Cũng chính vì vậy mà nhiều người băn khoăn rằng liệu các thực phẩm này có an toàn bằng các loại thực phẩm có được nhờ sử dụng các phương pháp nông nghiệp truyền thống hay không. Vậy sự khác biệt giữa lai giống thông thường và công nghệ sinh học thực vật  là gì. Thực  ra cả hai đều có cùng một một mục  tiêu  là  tạo  ra các giống cây trồng có chất lượng cao với những đặc tính đã được cải thiện giúp chúng phát  triển  tốt hơn và ngon hơn. Sự khác biệt  là ở chỗ mục đích này đạt được bằng cách nào.

Lai giống truyền thống đòi hỏi sự trao đổi hàng ngàn gen giữa hai cây để có được  tính  trạng mong muốn. Trong khi đó, nhờ công nghệ  sinh học hiện đại, chúng ta có thể lựa chọn một đặc tính mong muốn và chuyển riêng nó vào hạt giống. Sự khác biệt giữa hai kỹ thuật này là rất lớn. Phương pháp công nghệ sinh học hợp lý hơn, có hiệu quả cao và đem lại kết quả rất tốt. 
Các kỹ thuật sử dụng trong công nghệ sinh học hiện đại cung cấp cho những  nhà  lai  tạo  giống  những  công  cụ  chính  xác  cho  phép  họ  chuyển những đặc tính mong muốn vào cây trồng. Hơn thế nữa, họ có thể làm điều này mà không bị chuyển thêm các tính trạng không mong muốn vào cây như vẫn thường xảy ra, nếu sử dụng lai giống truyền thống.  

Thực phẩm có nguồn gốc từ cây trồng chuyển gen phải trải qua nhiều thử nghiệm hơn bất kỳ  loại  thực phẩm nào  trong  lịch  sử. Trước khi được đưa  ra  thị  trường, chúng phải được đánh giá sao cho phù hợp với các quy định do một vài tổ chức khoa học quốc tế đưa ra như Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Nông Lương, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế… Những quy định này như sau:

- Các sản phẩm chuyển gen cần được đánh giá giống như các loại thực phẩm khác. Các nguy cơ gây  ra do  thực phẩm có nguồn gốc  từ công nghệ sinh học cũng có bản chất giống như các loại thực phẩm thông thường. 

- Các  sản phẩm này  sẽ được xem xét dựa  trên độ an  toàn, khả năng gây dị ứng, độc tính và dinh dưỡng của chúng hơn là dựa vào phương pháp và kỹ thuật sản xuất. 

- Bất kỳ một chất mới nào được đưa  thêm vào  thực phẩm  thông qua công  nghệ  sinh  học  đều  phải  được  cho  phép  trước  khi  đưa  ra  thị  trường, cũng giống việc các loại chất phụ gia mới như chất bảo quản hay màu thực phẩm cần phải được cho phép trước khi thương mại hóa. 
Một số nhận định trong vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay như sau:

- Mức độ ăn toàn của thực phẩm chuyển gen ít nhất cũng tương đương với các thực phẩm khác bởi vì quá trình đánh giá an toàn đối với thực phẩm chuyển gen kỹ  lưỡng hơn nhiều so với việc đánh giá các  thực phẩm khác. Quá trình đánh giá an toàn thực phẩm đảm bảo rằng thực phẩm chuyển gen mang  lại  tất cả các  lợi  ích như  thực phẩm  thông  thường và không có  thêm một tác hại nào. 

- Chưa có bằng chứng nào cho thấy thực phẩm chuyển gen hiện đang có  trên  thị  trường gây  ra bất cứ  lo ngại nào về sức khoẻ con người hay có bất  kỳ  khía  cạnh  nào  kém  an  toàn  hơn  so  với  cây  trồng  tạo  được  nhờ  lai giống truyền thống. 

- Một điểm đặc trưng của kỹ thuật chuyển gen là nó đưa vào một hay nhiều gen đã được xác định rõ. Điều này giúp cho việc thử nghiệm độc tính của các cây  trồng chuyển gen dễ  thực hiện hơn  so với  các cây  trồng bình thường.

a. Các chất gây dị ứng
Một trong những mối quan tâm lớn nhất về thực phẩm chuyển gen là chất gây dị ứng  (một prôtêin gây  ra dị ứng) có  thể được chuyển vào  thực phẩm. Đến nay các nhà khoa học đã biết rất nhiều về các thực phẩm gây ra dị ứng ở  trẻ nhỏ và người  trưởng  thành. Khoảng 90% sự dị ứng  thức ăn  là có  liên quan  tới  tám  thực phẩm và nhóm  thực phẩm-động vật có vỏ  (tôm, cua, sò, hến), trứng, cá, sữa, lạc, đậu tương, quả hạch và lúa mỳ. Những loại thực phẩm này và rất nhiều chất gây dị ứng khác đã được xác định rất rõ và do vậy khó tin rằng chúng có thể được đưa vào thực phẩm chuyển gen.

Tuy vậy, việc kiểm  tra  tính dị ứng vẫn  là một khâu quan  trọng  trong việc kiểm  tra an  toàn  trước khi một giống cây  trồng được đưa  ra  làm  thực phẩm. Hàng loạt các thử nghiệm và câu hỏi phải được xem xét kỹ để quyết định liệu thực phẩm này có làm tăng sự dị ứng hay không. 
Các chất gây dị ứng có những đặc tính chung như không bị phân hủy trong quá trình tiêu hóa, có xu hướng không bị phân hủy trong quá trình chế biến  thực  phẩm,  và  thường  có  rất  nhiều  trong  thực  phẩm. 

 Cho  đến  nay, không có loại prôtêin nào được chuyển vào thực phẩm chuyển gen đã được thương mại hóa  lại mang những đặc  tính nói  trên. Chúng không có  tiền sử và khả năng gây dị ứng hay độc tính, cũng không giống với các chất gây dị ứng hay các độc tố đã biết và nói chung chức năng của chúng đã được biết rõ. Những prôtêin này có một hàm  lượng rất  thấp  trong  thực phẩm chuyển gen, nhưng nhanh chóng bị phân hủy  trong dạ dày và đã được kiểm  tra độ an toàn trong các nghiên cứu về thực phẩm cho động vật.

Các gen mã hóa  thông  tin di  truyền có mặt  trong  tất cả các  loại  thực phẩm và việc ăn chúng không gây ra bất kỳ ảnh hưởng xấu nào. Không có tác  hại  di  truyền  nào  xảy  ra  khi  tiêu  hóa DNA  cả. Trên  thực  tế,  chúng  ta luôn nhận DNA mỗi khi ăn do nó có mặt ở tất cả thực vật và động vật. 

b. Đánh giá độ an toàn của các thực phẩm  
Bất kỳ một sản phẩm chuyển gen nào trước khi được đưa ra thị trường phải được  thử nghiệm  toàn diện, được các nhà khoa học và các giám định viên đánh giá độc lập xem có an toàn về  dinh dưỡng, độc tính và khả năng gây  dị  ứng  hay  không. Các  khía  cạnh  khoa  học  thực  phẩm  này  dựa  trên những quy định của các tổ chức có thẩm quyền của mỗi nước, bao gồm: một hướng dẫn  sử dụng  sản phẩm,  thông  tin chi  tiết về mục đích  sử dụng  sản phẩm, các thông tin về phân tử, hóa sinh, độc tính, dinh dưỡng và khả năng gây dị ứng. 

Các câu hỏi điển hình có thể được đặt ra là: (1) Các thực phẩmchuyển gen có được tạo ra từ thực phẩm truyền thống đã được công nhận an toàn  hay  không.  (2) Nồng  độ  các  độc  tố  hay  chất  gây  dị  ứng  trong  thực phẩm có thay đổi hay không. (3) Hàm lượng các chất dinh dưỡng chính có thay đổi hay không. (4) Các chất mới  trong  thực phẩm chuyển gen có đảm bảo tính an toàn hay không. (5) Khả năng tiêu hóa thức ăn có bị thay đổi hay không.  (6) Các  thực phẩm có được  tạo  ra nhờ các quy  trình đã được chấp nhận hay không.  

Ngay khi các câu hỏi này và các câu hỏi khác về  thực phẩm chuyển gen đã được trả lời, vẫn còn nhiều việc phải làm  trong quá trình phê chuẩn trước khi thực phẩm chuyển gen được thương mại hóa. Thực tế, thực phẩm chuyển gen  là loại sản phẩm được nghiên cứu nhiều nhất  trong các  loại đã được sản xuất. 

3. Đạo đức sinh học
Đạo đức sinh học (bioethics)  là một phạm  trù phức  tạp mà cách nhìn nhận tùy thuộc vào đặc điểm dân tộc và văn hóa khác nhau. Cho nên, những vấn đề được coi  là hợp với đạo đức ở nơi này có  thể  là  trái đạo đức ở nơi khác. Thuật ngữ này có lẽ bắt nguồn ở Mỹ vào những năm 1970, khi các kỹ thuật  thao  tác  gen  (gene manipulation),  còn  gọi  là  kỹ  thuật  di  truyền  hay công nghệ DNA tái tổ hợp, được áp dụng. 

Phạm trù đạo đức sinh học bao hàm cách đánh giá lợi ích và rủi ro liên quan tới sự can thiệp của con người, đặc biệt là công nghệ mới, xem xét làm cân đối sự theo đuổi quyền tự do cá nhân với trách nhiệm pháp lý. Đạo đức sinh học đòi hỏi phải đánh giá công nghệ thật kỹ, trong đó có đánh giá ảnh hưởng đến xã hội và cá nhân. 

Cùng  với  thời  gian,  vấn  đề  này  ngày  càng  trở  nên  sâu  sắc.  Trước những xáo trộn do sự phát triển của di truyền học, người ta tự hỏi mình đang tiến tới loại xã hội nào và sự cân bằng mới nào trên hành tinh sẽ được thiết lập.

Đạo đức sinh học không giới hạn suy nghĩ về mối quan hệ giữa khoa học và xã hội. Nó gắn liền quan hệ giữa con người với tự nhiên trong tính đa dạng  sinh học của nó, kể cả bản chất của chính con người. Mặt khác, đạo đức sinh học  là một cách suy nghĩ về  tương  lai và giá trị của chúng  ta. Nó giúp cho giới chuyên môn đối thoại với những người ra quyết định và người dân, cùng quan tâm đến sự tồn tại của xã hội loài người. 

Ngày  25/7/1978,  bé  gái  được  thụ  tinh  trong  ống  nghiệm  (Louise Brown) đã ra đời ở Anh. Từ đó đến nay, kỹ  thuật này đã  tạo ra không biết bao nhiêu em bé như vậy trên thế giới, kể cả ở Việt Nam. Mục đích đầu tiên của  công  việc  này  là  hoàn  toàn  lành mạnh. Trong  trường  hợp  của Louise Brown, người mẹ bị vô sinh do khuyết tật ở vòi trứng nên để giúp bà có con, người ta đã lấy tế bào trứng của bà thụ tinh trong ống nghiệm với chính tinh trùng của chồng bà,  rồi cấy hợp  tử vào ngay  tử cung của bà. Về mặt  sinh học và pháp lý, em bé là con của họ và điều này cũng không đặt ra vấn đề gì về đạo đức hay vi phạm một điều luật nào.  

Nhưng một vấn đề tế nhị và phức tạp khác lại được đặt ra nếu một phụ nữ không  thể hoặc không muốn mang  thai, đề nghị một phụ nữ khác nhận trứng được thụ tinh của mình và mang hộ cái thai đó, vậy đứa con sẽ là của ai. Cho đến nay, ở những nước có dịch vụ mang thai hộ đã phát sinh nhiều vụ kiện, vì người được thuê nhiều khi phá hợp đồng, không muốn trả lại đứa con cho người thuê nữa. 

Một biểu hiện của chủ nghĩa ưu sinh dưới dạng mới, đó là người ta hy vọng có được những đứa con  thiên  tài bằng cách xin hoặc mua  tinh  trùng của  các  nhà  bác  học  được  giải  thưởng Nobel,  cho  thụ  tinh  với  trứng  của những phụ nữ  trẻ đẹp và  thông minh  rồi cấy phôi vào những phụ nữ này.

Nhưng  cách  làm  này  không  chắc  chắn  tuyệt  đối  do  quy  luật  phân  ly  di truyền và đứa con sinh ra vẫn có thể thuộc loại tầm thường. Sau thành công nhân  bản  cừu Dolly,  người  ta  hy  vọng  khắc  phục  được  vấn  đề  trên  bằng cách “nhân bản các thiên tài” nhờ chính tế bào của họ. Như ta đã biết, nhân bản người  là một vấn đề rất khó và hiện nay hầu như bị cấm  trên  thế giới. Vả lại đồng nhất di truyền không có nghĩa là đồng nhất bản sắc cá nhân. Xét về mặt luân lý và đạo đức việc làm trên không thể chấp nhận được, còn về mặt khoa học cũng khó hiện thực: thiên tài chỉ biểu hiện ở một độ tuổi nào đó và nếu định cho ra thiên tài theo cách này cũng khó vì hình dạng và thể chất của người mẹ đã khác trước. Lại càng khó thực hiện nếu thông qua một phụ nữ xa lạ không phải là mẹ mình, vì hệ gen của tế bào chất trong trứng lạ cũng có ảnh hưởng và sẽ không phát huy được như của chính mẹ mình.

Hiện nay,  sự phát  triển nhanh  chóng  của  công nghệ  sinh học đã đặt cho các ủy ban đạo đức và luật pháp trên thế giới những vấn đề sau đây: 

-  Có  nên  cho  phép  thay  đổi  chương  trình  di  truyền  của  người  hay không; và nếu cho phép  thì ở mức độ nào, cho dù việc  làm này được biện minh là để chữa các bệnh di truyền.

- Có  nên  chấp  nhận  việc  chẩn  đoán  trước  khi  sinh  để  lựa  chọn  giới tính của đứa trẻ hay không.

- Có nên bắt buộc thực hiện các chương trình phát hiện di truyền phục vụ lợi ích sức khoẻ của người dân hay để mỗi cá nhân nhận xét cơ hội dựa vào các thử nghiệm mà kết quả có thể trái ngược, ảnh hưởng tới họ và người thân của họ (ví dụ việc sinh ra một đứa con có thể có rủi ro khuyết  tật hay không).

- Có nên cấm  liệu pháp gen (gene  therapy) nhằm vào các  tế bào sinh dục hay không. Theo Suleiman, giáo sư nghiên cứu các vấn đề quốc  tế và giám đốc của Ủy ban nghiên cứu châu Âu (Đại học Princeton, Mỹ) thì “Nhà nước  cần  xác  định mức  độ  can  thiệp  vào  nghiên  cứu  khoa  học  qua  tranh luận công khai nhằm hợp pháp hóa hành động cũng như để người dân kiểm soát các hành động này. Tóm lại, nhà nước cần hợp tác với cộng đồng khoa học để đảm bảo  tự do nghiên cứu và ứng dụng hợp đạo đức các kết quả  từ đó”. 

4. Quyền tác giả và sở hữu trí tuệ
a. Quyền tác giả
Mặc  dù  đã  có  rất  nhiều  cuộc  tranh  luận  ở  các  diễn  đàn  quốc  tế  về quyền  tác  giả  của  các nước  có nguồn  gen quý  hiếm được phương Tây  sử dụng  trong công nghệ  tạo giống nhưng đến nay vẫn chưa đem  lại một kết quả  thât  sự nào. 169 nước đã đăng ký vào  công ước Quốc  tế về Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity) và công ước này có hiệu lực từ  12/1993,  trong  đó  quy  định  cùng  chia  sẻ  quyền  lợi  giữa  các  nước  có nguồn gen với các công ty phương Tây sử dụng nguồn gen đó. Tuy nhiên, từ đó đến nay các nước có nguồn gen quý hiếm vẫn tiếp tục bị mất dần tài sản quốc gia của mình mà quyền lợi được chia sẻ thì không đáng kể.   Chẳng  hạn,  năm  1994  hãng  ArgEvo  phân  lập  được  gen  PAT (phosphinothricin  acetyltransferase)  từ  dòng  vi  khuẩn  Streptomyces viridochromogens có trong mẫu đất lấy từ Camerun. Gen PAT cho phép tạo ra các giống cây trồng kháng thuốc diệt cỏ nhóm glufosinate, đóng góp quan trọng vào doanh số 2,3 tỷ USD của AgrEvo năm 1995. Tuy nhiên, hãng này đã từ chối không trả cho Camerun một khoản tiền nào về quyền tác giả. Ngày  16/1/1996, Bản  quyền  sở  hữu  số  5.484.889  của Mỹ  được  cấp cho Giáo sư Sylvia Lee-Huang (Đại học New York) để bảo vệ quyền tác giả của  ông  về một  loại  prôtêin  chiết  từ một  giống mướp  đắng  (Momordica charantia) có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc. Giống mướp đắng này là  thành phần chính của một bài  thuốc dân gian cổ  truyền của Trung Quốc để chống nhiễm  trùng. Lee-Huang đã cho  rằng nhờ công nghệ DNA  tái  tổ hợp, từ nay ông không cần phải mua hạt mướp đắng từ Trung Quốc nữa, vì các prôtêin  tái  tổ hợp  sản xuất  trong phòng  thí nghiệm của ông hoàn  toàn giống như prôtêin chiết từ quả mướp đắng trước đây.

Các  trường hợp  trên cho  thấy  các công  ty  lớn ở  các nước phát  triển nhờ  vào  tiềm  năng  khoa  học  và  nguồn  vốn  dồi  dào  của mình  đã  thương lượng về bản quyền  tác giả với  tư  thế của kẻ mạnh. Sự  thua  thiệt của các nước yếu về công nghệ sinh học sẽ còn kéo dài.

b. Sở hữu trí tuệ
Một trong những nét đặc trưng của công nghệ sinh học hiện đại là sự gia tăng tính sở hữu của nó. Hiện nay, ngành công nghệ sinh học được bảo vệ bởi các bằng sáng chế và các quyền về sở hữu trí tuệ (IPR). Như chúng ta biết, sở hữu trí tuệ đại diện cho các sản phẩm của trí tuệ.

Chúng là các ý tưởng được chuyển thành dạng hữu hình. Ví dụ của sở hữu trí  tuệ bao gồm: các  sáng chế, phần mềm máy  tính, ấn phẩm, băng đĩa ca nhạc, giống cây trồng-vật nuôi... Để tạo ra những sản phẩm như vậy thường đòi hỏi một khoảng thời gian dài và một nguồn vốn đầu tư lớn. Do vậy, các nhà sáng chế thường tìm cách thu hồi các nguồn đầu tư bằng cách sử dụng IPR.  IPR  cho  phép  các  sáng  chế  giới  hạn  quyền  sử  dụng  sở  hữu  trí  tuệ, không một cá nhân hoặc  tổ chức nào được phép sử dụng để sản xuất, nuôi trồng, bán hay  đề nghị  để  sáng  chế mà không  được  cho phép. Có một  số hình  thức để bảo vệ  các  tác giả bao gồm: quyền  tác giả,  sáng chế, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, quyền bảo hộ giống cây trồng-vật nuôi...
Các  bằng  sáng  chế,  quyền  bảo  hộ  giống  cây  trồng-vật  nuôi  và  các nhãn hiệu hàng hóa được ban hành bởi chính phủ của  từng quốc gia và sự bảo hộ chỉ có hiệu lực trong các nước mà sở hữu trí tuệ (IP) được ban hành.

Do vậy, để nhận được sự bảo hộ ở nhiều nước, các quyền này phải được áp dụng  và  thông  qua ở mỗi  nước. Còn  quyền  tác  giả  và  bí mật  kinh  doanh không đặc  trưng  theo quốc gia. Hiện nay, nhiều công nghệ mũi nhọn được sử dụng để tạo ra các sản phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp dường như không được bảo hộ ở các nước đang phát  triển. Chẳng hạn, các bằng sáng chế đối với promoter CaMV 35S chỉ được cấp và có hiệu  lực ở Hoa kỳ và Châu Âu (và ở Nhật Bản chỉ có một đơn xin đăng ký cấp bằng). Do đó, hiện nay chưa có IP nghiêm cấm các nước đang phát  triển sử dụng công cụ này trong nghiên cứu.

Hơn nữa, các tổ chức và cá nhân có thể sử dụng các công nghệ trong tạo giống cây trồng bao gồm triển khai, sản xuất và tiêu thụ ở các nước mà công nghệ sản xuất này chưa có IP bảo hộ. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến  IP sẽ phát sinh ở các nước có những công nghệ được bảo hộ bởi  IPR. Thời gian phát triển sản phẩm cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng vì các bằng sáng chế có thể được cấp ở trong nước cùng thời điểm phát triển sản phẩm. Do vậy, các nhà khoa học ở các nước đang phát  triển cần phải biết về các vấn đề liên quan đến IP và có phương án giải quyết thích hợp.

Cây  trồng được canh  tác để sử dụng bền vững ở các nước đang phát triển và các công nghệ được áp dụng để tạo ra các cây trồng này đang nhận được rất ít sự quan tâm thương mại của khu vực kinh tế tư nhân. Trên thực tế,  các  công nghệ này đã và đang được  chuyển giao nhằm  tăng năng  suất mùa vụ. Tuy nhiên, các nhà khoa học ở các nước đang phát  triển cần  thận trọng vì chuyển giao công nghệ liên quan đến nhiều vấn đề, không chỉ là ký kết  các hợp đồng  chuyển giao  nguyên  liệu và  cấp  giấy phép  sử dụng  cho một  sản phẩm. Cả bên chuyển giao và bên  tiếp nhận công nghệ phải  thận trọng với các IPR liên quan đến công nghệ và điều này là cần thiết cho các đối tác để tạo sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên tham gia.  Các nước đang phát triển luôn thiếu năng lực và nguồn lực quản lý IP để  tiến hành các phân  tích và đánh giá về sự cho phép sử dụng công nghệ nhằm phát triển sản phẩm nhập khẩu, sử dụng hoặc xuất khẩu sản phẩm. Do vậy, để giúp  chuyển giao các công nghệ ứng dụng  trong nông nghiệp cho các nước đang phát  triển, việc xây dựng khả năng quản  lý  IPR  là  rất quan trọng cho cả bên chuyển giao và bên  tiếp nhận công nghệ. Cây  trồng được canh tác để sử dụng bền vững ở các nước đang phát triển và các công nghệ được ứng dụng để tạo ra các cây trồng này rõ ràng nhận được ít sự quan tâm thương mại của khu vực kinh tế tư nhân. Trên thực tế các công nghệ này đã và đang được chuyển giao nhằm tăng năng suất mùa vụ.   Trong lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp, sáng chế có thể bao gồm:  các  phương  pháp  chuyển  gen  ở  thực  vật,  các  vector,  các  gen... Các sáng chế giữ vai trò quyết định nhất trong bảo hộ công nghệ sinh học nông nghiệp và được đánh giá là công cụ mạnh nhất trong hệ thống IP. Các sáng chế  tạm  thời,  thường được bảo hộ  trong khoảng 20 năm và  tùy  thuộc vào mỗi quốc gia. 

Nói chung, các cơ quan nghiên cứu khoa học của chính phủ cần xây dựng năng lực quản lý sở hữu trí tuệ mà họ nhận được hay tạo ra. Kiến thức về IPR sẽ giúp các nhà khoa học của các nước đang phát triển xác định được các thông tin về một công nghệ nhất định đã thuộc quyền sở hữu công cộng và họ có quyền sử dụng. Hơn nữa, IP do các khu vực kinh tế nhà nước tạo ra có  thể được xem xét  là  tài sản được  trao đổi với các công  ty  tư nhân hoặc được sử dụng làm hàng hóa trong các đàm phán chuyển giao công nghệ. Sự hợp tác giữa các khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân trong phát triển công nghệ nhờ chia sẻ bí quyết sản xuất và  IP sẽ  thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ cũng như đem lại lợi ích cho cả hai bên.

Theo GT Nhập môn Công nghệ sinh học (Chờ 5 giây và nhấn Skip ad để tải)
DOWNLOAD:

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...