Sinh học online, giải trí hài hước

Các chức năng của thận

Sự điều hoà nội dịch (dịch thể bên trong cơ thể) nhằm đảm bảo cho  thể tích  và các chất hoà tan trong đó luôn hằng định. Vì vậy, điều hoà nội dịch chính là sự kiểm tra khối lượng nước và muối khoáng được cơ thể thu nhận và thải ra hàng ngày. Ở động vật bậc cao (thú) và người điều hoà khối lượng H2O và muối khoáng được thực hiện chủ yếu qua quá trình tạo nước tiểu và thành phần các chất hoà tan trong nước tiểu, nghĩa là thông qua chức năng lọc, tái hấp thu và bài tiết của thận.


a. Điều hoà H2O
Áp suất thẩm thấu và áp lực thuỷ tĩnh (huyết áp) của máu là hai yếu tố cơ bản tham gia điều hoà H2O trong cơ thể. Cơ thể có thể mất H2O thường xuyên qua không khí thở ra, bốc mồ hôi, ở phân và nước tiểu. Khi đó làm giảm khối lượng H2O của nội dịch và dẫn đến làm giảm áp lực thuỷ tĩnh và tăng áp suất thẩm thấu của máu.

Nếu áp suất thẩm thấu của máu tăng, nghĩa là áp suất thuỷ tĩnh của máu giảm xuống sẽ kích thích vào cơ quan nhận cảm áp suất thẩm thấu ở cung động mạch chủ, xoang động mạch cổ, và xung động hưng phấn đó sẽ truyền vào trung khu điều hoà áp suất thẩm thấu ở vùng dưới đồi, một mặt gây cảm giác khát đòi hỏi uống nước, mặt khác vùng dưới đồi sẽ kích thích thuỳ sau tuyến yên tiết hormon ADH để tăng tái hấp thu H2O ở ống lượn xa, và ức chế lớp vỏ của tuyến trên thận tiết hormon aldosteron để giảm hấp thu chủ động Na+ ở ống lượn gần. Do đó, lượng nước tiểu bị giảm xuống, đồng thời ion Na+ không tăng nhờ đó sẽ điều chỉnh được áp suất thẩm thấu của máu.

 Nếu áp suất thẩm thấu của máu giảm xuống, nghĩa là áp suất thuỷ tĩnh của máu tăng lên (huyết áp tăng do có nhiều nước) thì quá trình trên sẽ xảy ra ngược lại, sẽ tăng tiết aldosteron để tăng tái hấp thu Na+, đồng thời làm giảm tiết hormon ADH giảm hấp thu H2O. Nhờ đó, lượng nước tiểu tăng lên sẽ có tác dụng điều chỉnh áp suất thẩm thấu của máu. Chứng đái tháo nhạt là do nguyên nhân nào đó làm giảm bài tiết ADH, bệnh nhân có thể tiểu tiện tới 20 l trong một ngày.

Như vậy kết quả của quá trình điều hoà thần kinh - thể dịch này đã tác động đến thận để làm cân bằng áp suất thẩm thấu của máu, cũng như điều hoà khối lượng nước trong cơ thể. Phản xạ điều hoà áp suất thẩm thấu của máu có tính mẫn cảm rất cao. Khi áp suất thẩm thấu của máu giảm xuống 2%, sẽ làm cho lượng nước được tái hấp thu chủ động ở ống lượn xa giảm xuống một nửa. Thời  gian tiềm tàng của phản xạ này khoảng 30 phút, nên sau 30 phút đã uống nước, lượng nước tiểu đã tăng lên nhờ phản xạ điều hoà áp suất thẩm thấu của máu.

b. Điều hoà muối.
Thận có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà sự cân bằng nồng độ các ion trong huyết tương. Muối ăn NaCl là thành phần chủ yếu tạo áp suất thẩm thấu của máu. Nên sự điều hoà muối thực chất là điều hoà hàm lượng của Na+. Sự điều hoà muối trong dịch thể chịu sự kiểm tra trực tiếp của hormon aldosteron. Hormon này được tiết ra khi hàm lượng muối giảm. Nó có tác dụng kích thích sự tái hấp thu Na+ của ống thận, đồng thời có tác dụng ức chế tái hấp thu K+. Khi hormon này tiết ít sẽ làm cho cơ thể mất nhiều Na+ mà không thể thải được K+ thừa. Người ta thấy rằng, ở thận lớp tế bào cận tiểu cầu có phản ứng với sự thiếu muối, và khi thể tích huyết tương giảm bằng cách giải phóng ra enzyme renin đổ vào máu. Enzyme này có tác dụng hoạt hoá một số protein của máu là angiotensinogen chuyển sang dạng hoạt động angiotensin. Sự có mặt của angiotensin trong máu sẽ kích thích vỏ tuyến thượng thận tiết andosteron. Ngoài ra angiotensin còn có tác dụng gây co mạch, tăng huyết áp (tác dụng này mạnh hơn noradrenalin 10 – 30 lấn), đồng thời thông qua não gây cảm giác khát.

c. Sự điều hoà độ pH của máu
Sau quá trình trao  đổi chất, trong các tổ chức đã sản sinh ra acid (ký hiệu HA) đi vào máu, và nhờ hệ thống đệm của máu, chủ yếu là sự dự trữ kiềm (ví dụ muối NaHCO3) để trung hoà acid và duy trì độ pH ổn định. 
Sự điều hòa ph
 
Do đó, lượng dự trữ kiềm (NaHCO3), sẽ bị tiêu hao nhanh chóng, và thận có vai trò phân ly NaA thành Na+ và A-, rồi giữ lại Na+  để trả lại cho máu, nhằm khôi phục lại lượng dự trữ kiềm. Nhờ thế mà ổn định được độ pH của máu. Còn gốc acid A- sẽ được thải ra ngoài.

Tóm lại, thận có vai trò trong quá trình điều hoà nhằm duy trì các hằng số của nội dịch, như:
- Điều hoà áp suất thẩm thấu.
- Điều hoà huyết áp.
- Điều hoà khối lượng máu.-
Điều hoà cảm giác khát.
- Điều hoà độ pH.

Trường hợp khi thận bị hỏng, hay trong thời gian giải phẫu thận, người ta đã dùng máy thận nhân tạo để lọc máu thay thận. Nguyên tắc cơ bản của máy thận nhân tạo là dựa trên cơ chế  trao  đổi các chất theo bậc thang nồng độ. Máu từ các động mạch của người bệnh chảy vào hệ thống ống dẫn. Hệ thống của ống dẫn được ngâm trong dung dịch thẩm tích và cuối cùng máu trong lòng ống được chảy về  tĩnh mạch của người bệnh. Hệ thống ống được làm bằng xenlophan, thành ống có nhiều lỗ cực nhỏ để các chất hoà tan trong huyết tương và dịch thẩm tích có thể qua lại dễ dàng. Nồng độ các chất trong dịch thẩm tích tuỳ thuộc vào yêu cầu của   người bệnh.   

 Chất nào có nồng độ cao trong máu cần phải loại bớt, thì nồng độ chất đó trong dịch thẩm tích sẽ thấp, và ngược lại chất nào muốn bổ sung cho máu thì trong dịch thẩm tích có nồng độ cao (hình 7.5).

Thể tích máu chứa trong lòng ống không vượt quá 500ml. Để chống đông, heparin được cho vào dòng máu phía đầu ống. Chất chống heparin cho vào dòng máu đầu ra khỏi máy để chống chảy máu cho người bệnh. Mỗi đợt chạy máy không quá từ hai đến ba ngày, mỗi ngày không quá 12 giờ. Nếu chạy máy quá lâu sẽ dẫn tới chảy máu do thừa heparin . 

DOWNLOAD:

Không có nhận xét nào:

Số lượt xem tháng trước

Bài đăng phổ biến

Bài đăng nổi bật

Shop hoa tươi Quận 1 (GIAO HOA NHANH)

Đà Lạt- xứ sở mộng mơ với biệt danh thành phố ngàn hoa là địa điểm lí tưởng mà nhiều người chọn đi du lịch. Đến đây ...