ADN - Mã di truyền (nâng cao)


Quá trình truyền đạt thông tin di truyền được thực hiện trên cơ sở vận động của vật chất di truyền thông qua quá trình phân bào và thụ tinh.

Vật chất di truyền là acid nucleic. Cơ chế truyền đạt thông tin di truyền ở mức phân tử thực hiện qua 3 quá trình: tái sinh ADN, phiên mã, dịch mã. Luận thuyết trung tâm đã nêu lên mối quan hệ của ba quá trình này trong cơ chế truyền đạt thông tin di truyền:
vật chất di truyền

Sự phân bào nội phân - Phân bào tăng nhiễm

Sự phân bào tăng nhiễm (nội phân)
Như ta  đã biết,  để có sự phân bào xảy ra, tế bào phải trải qua giai  đoạn S của interphase. Nghĩa là phải có sự tái bản ADN và tăng đôi số lượng NST. Tuy thế đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ, vì sau giai đoạn S còn có giai đoạn G2 và chính ở G2 hàng loạt chất protein được hình thành có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự nguyên phân.

Trong thực tế có nhiều trường hợp sau khi ADN được tái bản, NST đã được nhân đôi, nhưng tế bào không phân chia. Đây cũng là một phương thức phân bào bảo đảm cho sự tăng trưởng của mô và cơ quan mà không tăng cao số lượng tế bào, do kết quả của sự tăng lên số lượng NST trong nhân mà toàn bộ tế bào to thêm và thành đa bội. Ngày nay, người ta gọi tất cả các trường hợp trong đó có sự nhân đôi NST và ADN nhưng không có phân bào là nội phân.

Hiện tượng nội phân rất phổ biến trong tế bào gan. Tế bào gan chuột cống mới sinh là lưỡng bội có thể phân chia cho tế bào con là lưỡng bội (2n), nhưng một số tế bào sau khi ADN và NST tăng đôi mà không xảy ra sự phân bào và trở thành đa bội. Kết quả trong tế bào gan chuột cống trưởng thành có cả tế bào lưỡng bội (2n) và đa số là 4n, 8n, 16n. Hiện tượng nội phân thường gặp ở động vật không xương sống, động vật có xương sống và cả thực vật.

Thường người ta phân biệt 2 kiểu nội phân là nội nguyên phân (endomitose) và đa sợi hóa (polytenia)
Nội nguyên phân là trường hợp có sự nhân đôi NST, nhưng màng nhân không bị phá hỏng và tế bào không chia  đôi. Nếu hiện tượng nội nguyên phân tiếp tục sẽ hình thành các nhân khổng lồ và đa bội rất lớn. Hiện tượng nội nguyên phân rất phổ biến trong giới sinh vật. Đa sợi hóa là khi các sợi nhiễm sắc thể trong NST được nhân đôi, nhưng không tách ra khỏi NST, do đó, số lượng sợi trong mỗi NST tăng lên mà NST không tăng và không có sự phân chia tế bào. Hiện tượng  đa sợi cũng sẽ dẫn  đến  đa bội hóa và khối lượng nhân cũng như khối lượng tế bào chất đều tăng ứng với mức đa bội.

Hiện tượng đa sợi hóa thường gặp ở ấu trùng côn trùng hai cánh. NST khổng lồ ở tuyến nước bọt bọn này chính là do hiện tượng đa sợi hóa.
DOWNLOAD:

Các hình thức sinh sản của sinh vật


1. Sinh sản vô tính
Sinh sản vô tính là sinh sản với sự sao chép nguyên bản bộ gen và không kèm theo tái tổ hợp di truyền, nghĩa là không có sự tham gia của tế bào sinh dục đực và cái.

Quá trình phân bào giảm phân


Sự phân bào giảm nhiễm – Giảm phân (meiosis)

1. Đặc điểm của phân bào giảm nhiễm
Như ta đã biết, nhờ phân bào nguyên nhiễm mà có sự phân bố đồng đều NST về các tế bào con, và các tế bào con dù ở thế hệ thứ bao nhiêu đi nữa vẫn mang bộ NST lưỡng bội. Đối với cơ thể sinh sản vô tính thì không có vấn đề gì xảy ra. 

Nhưng đối với cơ thể sinh sản hữu tính là những cơ thể được phát triển từ hợp tử thì có vấn đề, vì hợp tử là tế bào lưỡng bội (2n) được hình thành do thụ tinh là quá trình kết hợp các bộ NST của giao tử đực và giao tử cái. Nếu như giao tử là lưỡng bội 2n thì hợp tử ở thế hệ 1 là 4n, thế hệ 2 là 8n, v.v. Nhưng số lượng NST con cái và bố mẹ theo đúng quy luật là không thay đổi. Vì vậy, trong tự nhiên, thực tế không xảy ra như trên vì cơ thể hữu tính có một cơ chế phân chia tế bào đặc biệt: sự phân bào giảm nhiễm - đặc trưng cho sự phân chia của các tế bào sinh dục. Do phân bào giảm nhiễm mà các giao tử có bộ NST đơn bội 1n và qua quá trình thụ tinh hợp tử lại có bộ NST lưỡng bội 2n. Cơ thể mang tế bào lưỡng bội được gọi là pha lưỡng bội (diplophase). Ví dụ ở thực vật bậc cao, pha lưỡng bội chính là cây mang lá, trên các cây này sẽ tạo thành cơ quan sinh sản. Các cây như thế được gọi là cây mang bào tử - thể bào tử, bởi vì các bào tử được tạo thành ở cây (tiểu bào tử trong các bao phấn, đại bào tử trong phôi tâm của noãn). Các bào tử được hình thành do kết quả phân bào giảm nhiễm đánh dấu sự kết thúc pha lưỡng bội và tiến sang giai đoạn đơn bội.

Ở động vật phân bào giảm nhiễm xảy ra ở giai đoạn chín (giai đoạn tạo thành noãn và tinh trùng). Như vậy, ở các cơ thể sinh sản hữu tính, trong quá trình hình thành các giao tử và thụ tinh có khác sự thay thế các pha bội thể (lưỡng bội - đơn bội - lưỡng bội).

Sự thay thế các pha này ở các nhóm cơ thể khác nhau mang đặc tính tiến hoá rõ rệt. 
Người ta thường phân biệt 3 kiểu phân bào giảm nhiễm: khởi đầu, trung gian, tận cùng.

a. Phân bào giảm nhiễm khởi đầu
Còn gọi là phân bào giảm nhiễm hợp tử là kiểu mà, trong đó, sự phân bào giảm nhiễm xảy ra ngay sau sự thụ tinh, tức là ngay bước đầu phân chia hợp tử (thấy ở tảo vànguyên sinh động vật).

b. Phân bào giảm nhiễm trung gian
Còn gọi là phân bào giảm nhiễm bào tử xảy ra trong quá tình hình thành bào tử.
Thời kỳ nằm giữa 2 giai đoạn thể bào tử và thể giao tử. Kiểu phân chia giảm nhiễm này đặc trưng cho phần lớn thực vật.

c. Phân bào giảm nhiễm cuối cùng
Còn gọi là phân bào giảm nhiễm giao tử, đặc trưng cho bọn động vật đa bào, một số đơn bào và thực vật bậc thấp (ví dụ tảo nâu).

2. Quá trình phân bào giảm nhiễm
Sau đây trình bày sự phân bào để hình thành giao tử ở động vật làm ví dụ.
Quá trình phân bào giảm nhiễm gồm hai lần phân chia tiếp nhau được gọi là  phân chia I và phân chia II. Lần phân chia I là lần phân chia giảm nhiễm lần, phân chia II là phân chia cân bằng - giống phân bào nguyên nhiễm.

a. Phân chia I
- Kỳ đầu I: kỳ đầu I có thể kéo dài vài giờ, vài ngày hoặc vài tuần lễ, có khi kéo dài hàng năm như quá trình sinh trứng ở động vật có vú. Sở dĩ kéo dài như vậy vì trong thời gian này là giai đoạn sinh trưởng của tế bào sinh dục, dài hay ngắn tuỳ theo các nhóm động vật khác nhau. 

Mặt khác, chính trong thời kỳ này xảy ra những quá trình phức tạp có liên quan đến sự tiếp hợp và trao đổi chéo của các NST tương đồng nên cần có thời gian.
+ Giai đoạn leptonem: ở giai đoạn này, trong nhân xuất hiện nhiều sợi nhiễm sắc dài, có hạt nhiễm sắc và có vân ngang. Số lượng sợi nhiễm sắc ương ứng với số lượng NST 2n. Các sợi này có cấu trúc xoắn đôi và rất khó nhận biết các NST trong giai đoạn này.
+ Giai đoạn zigonem: giai đoạn này bắt đầu khi các NST tương đồng liên kết với nhau từng đôi một. Một chiếc trong cặp NST tương đồng có nguồn gốc từ bố, chiếc kia có nguồn gốc từ mẹ (từ giao tử đực và giao tử cái). Sự tiếp hợp của các NST tương đồng xảy ra một cách chính xác. Có thể đính với nhau từ đầu mút, sau đó, kéo dài dọc NST, cũng có thể đính với nhau ở nhiều đoạn cùng một lúc. Nhờ sự tiếp hợp mà các hạt nhiễm sắc, các điểm của sợi nhiễm sắc tương đồng này có thể tiếp cận với các hạt, các điểm của sợi tương đồng kia. Trong suốt quá trình tiếp hợp, NST vẫn giữ nguyên là một thể toàn vẹn.
Điểm đặc trưng để nhận biết giai đoạn zigonem là sự tiếp hợp của các cặp NST tương đồng.

+ Giai đoạn pachinem: giai đoạn này tương đối dài, trong giai đoạn này sự tiếp hợp của các NST tương đồng kết thúc. Các NST tương đồng vẫn nằm tiếp cận nhau, chúng dày lên và co ngắn lại. Các NST ở đây đều là sợi đôi do 2 NST tương đồng dính sát vào nhau theo chiều dọc và được gọi là thể lưỡng trị (bivalent) gồm 2 đơn trị (mỗi NST tương đồng). Chúng có cặp tâm động riêng. Mỗi lưỡng trị có hai tâm động và gồm 4 sợi NST (chromatid). Trong giai  đoạn này xảy ra hiện tượng trao  đổi chéo giữa các cặp NST tương đồng. Sự trao đổi chéo biểu hiện 2 NST tương đồng trao đổi các cấu thành có chứa gen cho nhau. Hiện tượng trao đổi chéo có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt di truyền, vì nó dẫn đến sự  tái tổ hợp của gen (hình 11.8).

quá trình trao đổi chéo

Quá trình nguyên phân


Nguyên phân - Sự phân bào nguyên nhiễm

Quá trình nguyên nhiễm là quá trình phức tạp, gồm nhiều thời kỳ nối tiếp nhau: kỳ đầu, kỳ giữa, kỳ sau, và kỳ cuối. Mỗi kỳ có đặc trưng về cấu trúc và tập tính về NST, bộ máy phân bào.
quá trình nguyên phân

Quá trình phân bào và chu kì tế bào


1. Quá trình phân bào
Phân bào là một quá trình phức tạp, về mặt di truyền có thể xem phân bào là phương thức mà qua đó tế bào bố mẹ truyền thông tin di truyền cho các thế hệ con cháu.
Qua phân bào, các NST đã được phân đôi trong chu kỳ tế bào sẽ được phân ly đồng đều về 2 tế bào con.
Người ta thường phân biệt các kiểu phân bào sau đây:
- Phân bào nguyên nhiễm (mitosis) (còn gọi là nguyên phân): là phương thức phân bào phổ biến nhất, thường đặc trưng cho các tế bào soma và tế bào sinh dục khi còn non.
- Phân bào giảm nhiễm - giảm phân (meiosis): là phương thức phân bào để hình thành các giao tử ở các cơ thể sinh sản hữu tính.
- Phân bào tăng nhiễm - nội phân (endomitosis) đặc trưng cho tế bào đa bội.
- Trực phân - phân bào không tơ (amitosis), đặc trưng cho các tế bào bệnh lý hoặc tế bào đã biệt hoá. 

Cấu tạo và chức năng nhân


1. Cấu tạo của nhân

a. Cấu trúc đại cương
Nhân (nucleus) được Brawn phát hiện vào năm 1831 và được xem là thành phần bắt buộc của tất cả tế bào động vật và thực vật. Cơ thể một số vi sinh vật không quan sát thấy nhân, nhưng tìm thấy trong tế bào vi khuẩn và cả siêu vi khuẩn những chất tương đồng đối với chất của nhân: protide nhân (nucleoprotide) phân tán trong tế bào chất.

Những công trình nghiên cứu hiển vi điện tử và di truyền vi sinh vật đã chứng minh các “chất nhân” của cơ thể vi sinh vật có chức năng giống như nhân của cơ thể đa bào.
Như vậy, nhân hoặc chất nhân là tổ chức cố định và bắt buộc của tế bào ở bất kỳ mức độ tổ chức nào của sinh vật.

Trong đời sống của tế bào có thể chia làm hai thời kỳ:
-  Thời kỳ trao đổi chất.
- Thời kỳ phân chia nhân.

Mỗi thời kỳ nhân có cấu trúc riêng. Thời kỳ trao đổi chất nhân ở trạng thái không phân chia - trạng thái tĩnh. Thời kỳ phân chia nhân thay đổi để tiến tới sự phân chia nhân và phân chia tế bào.
Ở đây ta xét nhân ở thời kỳ trao đổi chất - thời kỳ nhân ở kỳ trung gian (interphase)

b. Số lượng
Tuyệt đại đa số tế bào có một nhân. Có nhiều tế bào có 2 hoặc 3 nhân (tế bào gan, tế bào tuyến nước bọt động vật có vú,...). Có những tế bào đa nhân, có khi hàng chục như tế bào đa nhân (megacaryocyte) trong tuỷ xương. Trái lại, cũng có những tế bào không có nhân như tế bào hồng cầu động vật có vú. Nhưng hồng cầu không nhân chỉ ở giai đoạn trưởng thành, giai đoạn non hồng cầu có nhân.

c. Hình dạng
Hình dạng của nhân phụ thuộc vào hình dạng của tế bào. Tế bào hình cầu, hình khối,... nhân thường có dạng hình cầu (tế bào limpho). Tế bào hình trụ (như tế bào cơ) thì nhân có dạng dài hình bầu dục. Tuy vậy, trong nhiều loại tế bào nhân có hình dạng phức tạp. Ví dụ: tế bào bạch cầu có hạt nhân phân khúc hình thuỳ.
Hình dạng của nhân có thể thay đổi tuỳ chức năng của tế bào. Ví dụ: nhân của bạch cầu có hạt phân thuỳ phức tạp là để tăng bề mặt tiếp xúc của nhân với tế bào chất.

d. Kích thước và vị trí
Kích thước của nhân là đặc trưng đối với từng loại tế bào nhất định. Nói chung, tế bào dạng trẻ có nhân lớn hơn tế bào dạng già. Kích thước của nhân có liên quan đến kích thước của toàn tế bào. Nói cách khác là liên quan đến kích thước của  tế bào chất. Tỷ lệ của nhân và tế bào chất có thể biểu hiện bằng chỉ số của Hertwig (1908) như sau:

Thành tế bào (cấu tạo và chức năng)


Tế bào thực vật được bao bọc bởi những thành tế bào, các thành này nằm ngoài màng sinh chất và là tổ hợp đơn giản của gluxit. Đã từ lâu, các nhà sinh học biết tế bào thực vật, nấm và phần lớn các vi khuẩn có thành dày và chất giàu gluxit. 

Nhưng chỉ những năm gần đây người ta mới nhận thấy rằng tế bào động vật cũng có gluxit ở mặt ngoài của chúng. Các gluxit ở tế bào động vật không tạo nên thành của tế bào, tuy nhiên chúng hoạt động như những  
nhóm phía ngoài không phụ thuộc vào một số lipid và ptotein màng. Mặc dầu không liên hệ với nhau, các nhóm gluxit này thường được mô tả là “vỏ” tế bào và “vỏ” này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định một số đặc tính của tế bào. Sự có mặt của gluxit trên bề nặt ngoài của các tế bào làm xuất hiện các đặc tính chung của chúng. 

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt: một bên là thành tế bào dễ nhận thấy, dày và tương đối cứng của thực vật, nấm và vi khuẩn. Bên kia là lớp “vỏ” khó thấy, mỏng và mềm của tế bào động vật. 


- Thành tế bào thực vật, nấm và vi khuẩn: thành tế bào thực vật, nói chung, không được coi là một phần của màng sinh chất, mặc dầu nó là sản phẩm của tế bào. Thành phần cấu trúc cơ bản của thành tế bào là loại polysaccharide tổng hợp - cellulose - có cấu trúc dạng sợi. Sợi cellulose gắn với nhau nhờ khuôn của các dẫn xuất gluxit khác, trong đó, có pectin và hemicellulose. Khuôn này không hoàn toàn lấp đầy các khoảng trống 
giữa các sợi và chúng cho phép nước, không khí, các chất hoà tan đi qua thành tế bào một cách tự do. 

Phần đầu tiên của thành tế bào do tế bào trẻ đang phát triển tạo ra gọi là thành sơ cấp. Nơi thành của 2 tế bào chạm nhau, lớp giữa chúng được gọi là tấm trung gian sẽ gắn chúng với nhau. Pectin một polysaccharide tổng hợp trong dạng pectatecanxi là cấu trúc cơ bản của tấm trung gian. Nếu pectin bị hoà tan, tế bào sẽ kém liên kết chặt chẽ với nhau. Ví dụ: khi quả chín, pectatecanxi chuyển hoá một phần thành dạng khác dễ hoà tan hơn, các tế bào trở nên mềm hơn. 

Tế bào của các mô mềm ở thực vật chỉ có thành sơ cấp và tấm trung gian giữa các tế bào. Sau khi ngừng phát triển, các tế bào tạo phần gỗ cứng hơn và các lớp tiếp tục phát triển để hình thành nên thành thứ cấp. 

Thành thứ cấp thường dày hơn thành sơ cấp và được cấu tạo từ các lớp rất chặt hoặc tấm. Sợi cellulose của mỗi sợi tấm nằm song song với nhau và có góc 60 - 900 với sợi của tấm bên cạnh. Ngoài cellulose, thành thứ cấp còn chứa các chất khác như lignin làm cho chúng chắc hơn. 

Trên thành tế bào có những cầu nối, qua đó, các tế bào cạnh nhau liên hệ với nhau gọi là, cầu sinh chất (plasmadesmata). Có 2 dạng: 

+ Dạng thứ nhất là các đường ống qua màng, qua đó nguyên sinh chất của từng tế bào riêng biệt trong một cơ thể thực vật đa bào liên kết và trao đổi với nguyên sinh chất của tế bào khác. Các nguyên sinh chất liên kết với nhau thành một hệ thống gọi là hợp bào (symplaste). Phần lớn sự trao đổi chất giữa các tế bào như trao đổi đường và acid amino thường xảy ra qua cầu sinh chất của hợp bào. 

+ Dạng thứ 2 gọi là lõm, đó là vật cản có tính thấm chọn lọc do thành sơ cấp tạo nên. 


Thành tế bào của nấm và các vi khuẩn được cấu tạo từ chitin (thực vật từ cellulose) là dẫn xuất của amino glucosamine. Ở vi khuẩn, thành tế bào có chứa vài dạng cơ chất hữu cơ thay đổi theo từng nhóm. Phản ứng đặc biệt của các cơ chất hữu cơ này đối với các chất nhuộm màu là dấu hiệu để phân loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm. 

Nhờ có thành tế bào mà tế bào thực vật, nấm và vi khuẩn không bị vỡ ở môi trường ngoài rất loãng (nhược trương). Ở môi trường này tế bào phồng lên do áp lực trương và sẽ ép vào thành tế bào. Áp lực trương trên thực tế còn làm cho cấu trúc cơ học của cây xanh mạnh hơn (hình 9.11). 

Cuộc sống dưới biển sâu

Blog Sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn đoạn video giới thiệu về cuộc sống đấy biển sâu nơi ánh sáng không chiếu tới do vậy các loài vật có những cách thức đặc biệt để sinh tồn. Mời các bạn cùng theo dõi đoạn video để tìm hiểu thêm 

DOWNLOAD:

Hệ vi sợi và vi ống trong tế bào


1. Vi ống (microtubule)
Vi ống phổ biến ở các loại tế bào khác nhau, vì vậy, người ta xem chúng là cấu trúc cố định của tế bào. Số lượng, vị trí và hướng sắp xếp của chúng trong các tế bào khác nhau rất khác nhau.

Vi ống có cấu trúc hình ống rỗng ở giữa, chiều dài có khi đạt tới 2,5µm, đường kính từ 150 - 300Å, lòng ống rộng từ 100 - 200Å, thành ống dày 40 - 60Å.

Câu hỏi trắc nghiệm luyện thi Đại học môn Sinh học

Blog Sinh học Online xin giới thiệu đến các bạn tuyển tập 250 câu hỏi trắc nghiệm Sinh học luyện thi đại học.

Các bạn tải file đày đủ dạng pdf tại đây. (chờ 5 giây và nhấn skip ad để tải)
DOWNLOAD:

Cấu tạo và chức năng không bào


Không bào được hiện ra trong tế bào chất như những túi chứa nước và các chất tan hoặc tích nước do tế bào chất thải ra. Túi được bao quanh bởi một màng gọi là tonoplast, có thể xem như màng trong của tế bào chất.

Peroxysome và glyoxySome

I. PEROXYSOME (PEROXIXOM) 

1. Cấu tạo
Peroxysome là bào quan được bao bọc bởi một màng đơn mỏng, thường nằm gần lưới nội sinh chất không hạt hoặc phần nhẵn của lưới nội sinh chất có hạt.

Nhiều tác giả cho rằng peroxysome  được hình thành từ lưới nội sinh chất. Các prôtêin của màng peroxysom được tổng hợp từ lưới nội sinh chất có hạt rồi chuyển tới lưới nội chất không hạt, từ đó hình thành túi của peroxysome. Các enzyme trong túi được tổng hợp ở trong tế bào chất rồi đưa vào bên trong túi. Peroxysome chứa catalase (catalaza) và một số enzyme oxy hoá như urat oxydase, D. aminoacid oxydase.
Peroxixom

Sách Hướng Dẫn Giải Bài Tập Trắc Nghiệm Sinh Học Theo Chủ Đề - Phần Di Truyền Và Sinh Thái Học



Giá 26.000đ
Cuốn sách Hướng Dẫn Giải Bài Tập Trắc Nghiệm Sinh Học Theo Chủ Đề - Phần Di Truyền Và Sinh Thái Học được biên soạn theo các chủ đề trong phần Di truyền và Sinh thái học. Trong mỗi chủ đề, tác giả đều phân loại các dạng bài tập, thiết lập các công thức tính toán và ví dụ để các bạn thực hành. 

Cuốn sách Hướng Dẫn Giải Bài Tập Trắc Nghiệm Sinh Học Theo Chủ Đề - Phần Di Truyền Và Sinh Thái Học thích hợp cho việc tổng hợp kiến thức giúp ích cho các bạn trong kì thi Tốt nghiệp THPT và Đại học - Cao đẳng sắp tới.

Đăng kí tài khoản mua sách tại Davibook 
Sau khi đăng kí, bạn nhấn link này để mua sách nhé
DOWNLOAD:

Tổng hợp câu hỏi trắc nghiệm sinh học

1234 Câu Hỏi Và Bài Tập Trắc Nghiệm Điển Hình Sinh Học bao gồm 1234 câu hỏi trắc nghiệm giúp bạn thử sức với những câu hỏi trắc nghiệm từ dễ đến khó. 
Các phần trong sách được chia thành 3 phần với 15 chuyên đề. Với mỗi phần đều có tóm tắt kiến thức một cách ngắn gọn,dễ hiểu sau đó là tổng hợp các câu hỏi trắc nghiệm.

Phần I: Di truyền - Biến dị

Chuyên đề 1: Sinh học phân tử

Chuyên đề 2: Sinh học tế bào

Chuyên đề 3: Biến dị

Chuyên đề 4: Các quy luật di truyền

Chuyên đề 5: Di truyền người

Chuyên đề 6: Di truyền quần thể



Phần II: Sự tiến hóa của sinh giới

Tài liệu Ôn tập Môn Sinh học


Lizoxom (lisosome)


Lysosome được De Duve (Bỉ) nghiên cứu, mô tả đầu tiên vào năm 1949 và đặt tên vào năm 1955. Lysosome là bào quan có trong hầu hết các tế bào động vật và cả động vật đơn bào. Đặt biệt thể lysosome có nhiều và có kích thước lớn trong các đại thực bào và bạch cầu.

Ribôxôm (ribosome)

Ribôxôm còn gọi là hạt palad, được Palade mô tả lần  đầu tiên vào năm 1953. ribôxôm có trong tất cả tế bào từ vi khuẩn đến động vật bậc cao.

1. Cấu tạo hình thái
Ribôxôm là những khối hình cầu hay hình trứng có  đường kính 150Å. Sự phân bố của ribôxôm trong tế bào thay đổi tuỳ vùng. Chúng có thể ở dạng tự do rải rác trong tế bào chất, hay dính vào mặt ngoài của màng mạng lưới nội sinh chất hoặc mặt ngoài của màng nhân (hình 9.4).

Ribôxôm có thể  đứng riêng lẻ hoặc liên kết với nhau thành chuỗi bởi một sợi mảnh có đường kính 15Å. Ngàynay, người ta  đã biết  đó là sợi mARN. Mỗi chuỗi có từ 5 - 70 ribôxôm(theo Rich, 1963-1964). Khoảng cáchgiữa các ribôxôm là 50 - 150Å. Mỗi chuỗi như vậy gọi là polysom.

Mỗi ribôxôm được tạo thành bởi 2 đơn vị nhỏ gọi là hai tiểu phần có độ lắng và kích thước khác nhau. Hai tiểu phần gắn vào nhau nhờ ion Mg++. Khi nồng độ Mg++ thấp hơn 0,001M, ribôxôm tách thành 2 tiểu phần có độ lắng khác nhau (hình 9.5).










Ribôxôm vi khuẩn có độ lắng là 70S; ribôxôm của thực vật và động vật là 80S thì tiểu phần lớn có độ lắng là 60S, còn tiểu phần nhỏ là 40S. Ở ribôxôm 70S thì tiểu phần lớn có độ lắng 50S và tiểu phần nhỏ là 30S.

Bộ máy Gongi (Golgi)


Phức hệ Golgi (Golgi complex)
Phức hệ Golgi (bộ máy GOngi) hay bộ Golgi được phát hiện vào năm 1898 bởi Golgi.

1. Cấu tạo hình thái
Bộ Golgi thường nằm gần nhân tế bào, ở tế bào động vật nó thường ở cạnh trung thể (centrosome) hay ở trung tâm tế bào. Bộ Golgi được tạo thành bởi các thành phần sau:

- Những bao dẹt xếp song song thành chồng như chồng đĩa. Mỗi bao dẹt có hình một cái đĩa cong đường kính từ 1 - 3µm. Đường kính của lòng bao từ 100 - 200Å.

- Những túi nhỏ hình cầu,  đường kính 300 - 1000Å, nằm  ở vùng ngoại vi của những bao dẹt.

- Những không bào lớn hình cầu đường kính khoảng 5000Å, có khi tới 30.000Å. Chúng thường nằm ở đầu các bao dẹt, hoặc chen vào giữa các chồng bao dẹt (hình 9.1).
Bộ máy gongi

Phân biệt vi khuẩn Gram dương và Gram âm

Thành phần cấu tạo của thành tế bào rất phức tạp, cấu trúc thành tế bào của vi khuẩn Gram + và Gram âm rất khác nhau:
phân biệt vi khuẩn gram âm và gram dương

Lục lạp


Lạp thể là những bào quan đặc trưng cho tế bào thực vật, có liên quan đến quá trình sinh tổng hợp các hydratcacbon đặc trưng cho sự trao đổi chất của thực vật.
Người ta thường phân biệt hai nhóm lạp thể lớn:

- Nhóm thứ nhất: bạch lạp - là lạp thể không có màu, gồm:
 + Lạp bột (amiloplast) là nơi tổng hợp tinh bột.
 + Lạp dầu (oleoplast) là nơi tổng hợp dầu.
 + Lạp đạm (proteinoplast) là nơi tập trung protein.

- Nhóm thứ 2: sắc lạp - là lạp thể có chứa sắc tố gồm:
 + Lục lạp là lạp thể màu lục có chứa sắc tố chlorophyll.
 + Lạp cà rốt (carotinoridoplast) là lạp thể có chứa sắc tố màu vàng.

Trong điều kiện sinh lý phát triển cá thể của thực vật, các lạp thể có thể chuyển hoá cho nhau. Ví dụ: bạch lạp biến thành lục lạp, như sự hoá xanh của mầm cây từ chỗ tối ra chỗ sáng, lục lạp biến thành sắc lạp như khi quả chín thì màu xanh biến thành màu vàng, đỏ,...

Sự phân hoá thành nhiều loại lạp thể như trên chỉ đặc trưng cho thực vật xanh bậc cao.
Ở tảo, lạp thể chỉ có 1 loại chromotophora.

Ở vi khuẩn lam và vi khuẩn quang hợp không có lục lạp ở dạng phân hoá mà do sắc chất (chromatoplasma) thực hiện.
Ở nấm và nấm nhầy không có lạp thể vì cơ thể dị dưỡng.

1. Bạch lạp
Bạch lạp là loại lạp thể không màu có hình dạng không xác định và có trong các bộ phận không màu của cây. Như đã nói ở trên, có nhiều loại bạch lạp: lạp bột, lạp dầu và lạp đạm, nhưng phổ biến nhất là lạp bột (amiloplast) có vai trò tổng hợp các tinh bột thứ cấp từ các mono và disacarit. Tinh bột do lạp bột tổng hợp được giữ lại ở dạng dự trữ để sử dụng lâu dài cho các giai đoạn phát triển cá thể về sau của cây. Các hạt tinh bột này có kích thước lớn và được gọi là tinh bột dự trữ. Thực ra, các loại lạp thể khác như lục lạp đều có khả năng tổng hợp tinh bột, nhưng các hạt tinh bột kiểu này có kích thước bé và
được gọi là tinh bột cấp một hay tinh bột chuyển tiếp. Ví dụ trong lục lạp, tinh bột chỉ được hình thành trong thời gian lục lạp còn đồng hóa CO2, sau đó, chúng biến mất và được chuyển vận cho các nơi sử dụng hoặc cho cơ quan dự trữ. Người ta có thể dễ dàng tách các hạt tinh bột từ dịch nghiền của mô thực vật nhờ trọng lượng riêng rất lớn của tinh bột (lớn hơn I,6) cao hơn trọng lượng riêng của các cấu thành khác của tế bào. Cũng vì vậy mà ta có thể chế biến bột bằng cách đơn giản là để lắng tinh bột do tác dụng của trọng lượng mà không cần phải ly tâm. Trong nội nhũ của hạt lúa chứa đầy tinh bột nên

người ta thu được bột gạo đơn giản bằng cách chỉ cần xay nghiền chúng là được. Tuy nhiên, loại bột như vậy còn chứa rất nhiều cấu thành khác của tế bào, cho nên, để nghiên cứu tính chất hóa lý các hạt tinh bột thì còn phải tách chúng khỏi hỗn hợp bột đó. Chúng ta đều biết tinh bột gồm 2 thành phần amilo và amilopectin, trong đó hàm lượng amilo chiếm từ 1/5 - 1/4. Trong tinh bột của một số hạt có thể không có amilo (ví dụ trong ngô nếp). Trong các hạt loại khác thì amilo có thể chiếm đến 1/3 hoặc tới 1/2.

Sự sai khác về thành phần hóa học đó không hề ảnh hưởng đến đặc tính hình thái của các hạt tinh bột. Tinh bột ngô nếp khi nhuộm bằng iod có màu đỏ nhạt cũng có cấu tạo hiển vi giống như tinh bột ngô tẻ là loại tinh bột khi nhuộm bằng iod sẽ bắt màu đen. Như vậy, đặc tính đa dạng về hình thái của các hạt tinh bột ở các loài và họ thực vật khác nhau là do các nhân tố điều chỉnh sự tổng hợp tinh bột. 

Trong các dạng tinh bột hạt hòa thảo và tinh bột củ được nghiên cứu nhiều nhất, chúng khác nhau về rơnghen đồ, về hình dạng: tinh bột hòa thảo có dạng hình cầu (ví dụ lúa mì), còn tinh bột củ có dạng hình trứng (vídụ khoai tây). Ngoài ra, tinh bột dạng hình trứng ở củ có cấu trúc lớp đồng tâm thấy rất rõ dưới kính hiển vi, còn đặc tính cấu trúc lớp tinh bột hòa thảo thường thì không thấy dưới kính hiển vi mà người ta chỉ quan sát được chúng sau khi ngâm mủn. Sự hình thành và phát triển các hạt tinh bột ở thảo và củ đều tương tự như nhau. Trong chất nền của lạp bột có chứa các ống nhỏ và túi nhỏ, lúc đầu xuất hiện phần tử tinh bột có kích thước hiển vi điện tử. Có trường hợp phân tử tinh bột xuất hiện ở trung tâm lạp bột, các ống nhỏ và túi bao quanh thành vòng kín có cấu trúc tương tự như không bào. 

Tinh bột mới được hình thành trong chất nền bao quanh hạt tinh bột nguyên thủy đó và kết quả là xuất hiện trung tâm tạo tinh bột có kích thước thấy được dưới kính hiển vi quang học có tên gọi là hilum.

Hilum phát triển to lên do sự hình thành tinh bột mới và cuối cùng trong lạp bột chứa đầy tinh bột. Trong khi tinh bột hình thành và lớn lên, các ống và túi trong chất nền lạp bột bị ép ra ngoại biên, cuối cùng kích thước hạt tinh bột phát triển lớn hơn kích thước ban đầu của lạp bột, kết quả là hạt tinh bột được bao bởi màng (nó gồm màng kép của lạp bột và chất nền còn lại). Màng này càng ngày càng to và biến thành càng khô. Ở nội nhũ hạt lúa trong các lạp bột xuất hiện nhiều trung tâm tạo bột nguyên thủy. Các chất tinh bột nguyên thủy này lớn lên, tiếp xúc  dính với nhau hình thành hạt phức tạp hơn. Giữa các hạt tinh bột bé tạo thành hạt lớn phức tạp vẫn còn di tích chất nền của lạp bột, vì vậy, dễ dàng tách các hạt tinh bột bé khỏi hạt lớn. Ở hạt gạo, các hạt tinh bột bé này có kích thước rất bé, do đó, người ta thường dùng bột gạo để chế tạo phấn bôi mặt. Ở trong lạp bột của nội nhũ lúa mì, lúa mạch thì chỉ xuất hiện một trung tâm tạo bột và quá trình phát triển có thể hình thành hạt tinh bột lớn có kích thước tới 20 - 30µm. Đặc tính cấu tạo lớp trong hạt tinh bột của hạt hòa thảo phản ánh chu kỳ ngày, nghĩa là phụ thuộc vào chu kỳ ngày, của sự trao đổi chất của cây, phụ thuộc vào các nhân tố ngoại cảnh như chiếu sáng, nhiệt độ, cường độ tổng hợp đường. 

Cũng vì vậy mà gọi lớp vỏ ở hạt tinh bột là vòng ngày giống như vòng năm ở thân cây (nếu ta đem chiếu sáng liên tục, ổn định và nhiệt độ ổn định thì trong các hạt
tinh bột hạt hòa thảo không quan sát thấy cấu trúc lớp). Còn cấu trúc lớp của hạt tinh bột củ khoai tây không mang tính chất chu kỳ ngày, mà phụ thuộc vào các nội nhân tố, có lẽ chủ yếu là phụ thuộc vào sự vận chuyển của đường là nguyên liệu để tổng hợp tinh bột.

2. Sắc lạp
a. Lục lạp (chloroplast)
Lục lạp là bào quan phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong thế giới thực vật, vì nó thực hiện chức năng quang hợp biến năng lượng của ánh sáng mặt trời thành năng lượng hoá học để cung cấp cho toàn bộ thế giới sinh vật.
Lục lạp

Ti thể



Ty thể được phát hiện và mô tả đầu tiên bởi Altman từ năm 1894 và đến năm 1897 Benda đặt tên là mitochondria. Cấu trúc siêu hiển vi của ty thể được Palad nghiên cứu bằng kính hiển vi điện tử vào năm 1952 và Sjostand vào năm 1953.

1. Cấu tạo hình thái
Hình dạng chung của ty thể trong các loại tế bào khác nhau thì rất khác nhau và thường có dạng sợi, hạt hoặc cả sợi và hạt trong một tế bào. Ví dụ: trong tế bào gan, ty thể có thể thay đổi từ dạng hạt sang sợi và ngược lại; còn trong tế bào biểu bì ruột, dạng sợi nằm ở phần ngoài, dạng hạt nằm ở phần trong.
Ti thể, cấu tạo ti thể

Lưới nội chất, tế bào chất


1. Tế bào chất (cytoplasma)
Tế bào chất là khối nguyên sinh chất (protoplasma) nằm trong màng tế bào và bao quanh lấy nhân. Tế bào chất của một số tế bào có sự phân hóa thành 2 lớp:
- Lớp ngoại chất (exoplasma) ở ngoại vi, mỏng hơn và có độ nhớt cao hơn.
- Lớp nội chất (endoplasma) ở bên trong và bao quanh lấy nhân, chứa các bào quan như: mạng lưới nội sinh chất, phức hệ Golgi, ribosome, ty thể, lạp thể, thể lido...

Nếu loại bỏ các bào quan thì còn lại khối tế bào chất không có cấu trúc - gọi là chất nền hay thể trong suốt (cytosol).

Thể trong suốt chiếm gần một nửa khối lượng của tế bào. Thể trong suốt có nhiều nước, có thể  đến 85%. Sau nước, protein là thành phần chủ yếu. Thể trong suốt chứa đựng một số lượng protein sợi xếp lại thành bộ khung của tế bào. Trong thể trong suốt có hàng nghìn enzyme và chứa  đầy ribosome  để tổng hợp protein. Gần một nửa enzyme được tổng hợp nên trên các ribosome là các protein của thể trong suốt. Do đó, nên xem thể trong suốt là một khối gel có tổ chức cao hơn là một dung dịch chứa enzyme.

Ngoài protein ra, trong thể trong suốt còn có các loại ARN như mARN, tARN chiếm 10% ARN của tế bào. Trong thể trong suốt còn có các chất như: lipid, gluxit, acid amin, nucleoside, nucleotide và các ion. Thỉnh thoảng có các hạt dầu và hạt glycogen với số lượng thay đổi và có thể mang từ vùng này qua vùng khác tùy hoạt tính của tế bào.
Thể trong suốt giữ nhiều chức năng quan trọng như:
-  Là nơi thực hiện các phản ứng trao đổi chất của tế bào, là nơi gặp nhau của chuỗi phản ứng trao đổi chất. Sự biến đổi trạng thái vật lý của thể trong suốt có thể ảnh hưởng đến hoạt động của tế bào.
-  Nơi thực hiện một số quá trình điều hòa hoạt động của các chất.
-  Nơi chứa các vật liệu dùng cho các phản ứng tổng hợp các đại phân tử sinh học như các gluxit, lipid, glycogen.

Mọi hoạt động sống của tế bào đều xảy ra trong tế bào chất và do các bào quan riêng biệt phụ trách và được phối hợp điều hòa một cách nhịp nhàng. 

2. Mạng lưới nội sinh chất (endoplasma reticulum)
Mạng lưới nội sinh chất được phát hiện bằng kính hiển vi điện tử. Mạng lưới nội sinh chất có ở mọi loại tế bào động vật và thực vật, gần đây, người ta cho rằng những cấu trúc tương tự như mạng lưới nội sinh chất được nhận thấy cả ở vi khuẩn.

b. Cấu tạo hình thái
mạng lưới nội chất

Cấu trúc tế bào


1 Hình thái của tế bào
a. Hình dạng tế bào
Tế bào thường có hình dạng tương đối ổn  định và đặc trưng cho mỗi loại tế bào. Ví dụ: tinh trùng, tế bào trứng, tế bào thần kinh, tế bào hồng cầu, các loại tế bào biểu mô...
Tuy vậy, có một số tế bào luôn luôn thay đổi hình dạng như: amíp, bạch cầu... Trong môi trường lỏng, tế bào có dạng hình cầu như bạch cầu trong máu. Đa số tế bào động vật và thực vật có dạng hình khối đa giác, có loại phân nhánh.

b. Kích thước tế bào
Kích thước của tế bào rất khác nhau đối với các loài khác nhau. Nói chung, tế bào có độ lớn trung bình vào khoảng 3 - 30μm. Nhưng có những tế bào rất lớn có thể nhìn thấy, sờ mó được như trứng gà, trứng vịt... Tế bào có kích thước lớn nhất là trứng đà điểu, đường kính đạt tới 17,5cm. Trái lại, đa số tế bào vi khuẩn có kích thước từ 1 - 3μm.
Ngày nay, người ta đã khám phá ra một loại tế bào có thể xem là nhỏ nhất, đó là tế bào microplasma laidlawii có đường kính 0,1μm, chỉ lớn hơn nguyên tử hydro 1.000 lần và gần bằng kích thước của siêu vi khuẩn. Trong nó chỉ chứa khoảng 1.000 hoặc chục nghìn các đại phân tử sinh học và tổng hợp vài chục các enzyme khác nhau.
Thể tích của tế bào cũng rất thay đổi ở các dạng khác nhau. Tế bào vi khuẩn có thể tích vào khoảng 2,5μm3. Đối với các tế bào của các mô ở người (trừ một số tế bào thần kinh) có thể tích vào khoảng từ 200 đến 15.000μm3. Thường thể tích của các loại tế bào là cố định và không phụ thuộc vào thể tích chung của cơ thể. Ví dụ: tế bào thận, gan của bò, ngựa, chuột... đều có thể tích như nhau. Sự sai khác về kích thước của cơ quan là do số lượng tế bào chứ không phải là do kích thước của tế bào.
c. Số lượng tế bào
Số lượng tế bào trong các cơ thể khác nhau thì rất khác nhau. Sinh vật đơn bào, cơ thể chỉ có một tế bào. Các sinh vật đa bào, trong cơ thể có từ vài trăm tế bào (như nhóm trùng bánh xe có 400 tế bào) đến hàng tỉ tế bào. Ví dụ: cơ thể người có 6.1014 tế bào chỉ tính riêng hồng cầu trong máu người cũng đã đạt tới 23 nghìn tỉ.
Tuy nhiên, cơ thể đa bào dù có số lượng tế bào lớn đến bao nhiêu cũng được phát triển từ 1 tế bào khởi nguyên: hợp tử.

2. Các dạng tế bào và cấu trúc đại cương
Trong thực tế, không tồn tại một dạng tế bào chung nhất cho tất cả các cơ thể sinh vật, mà tế bào phân hoá ở nhiều dạng khác nhau trong quá trình tiến hoá của sinh vật. Ngày nay, nhờ kỹ thuật kính hiển vi điện tử, người ta đã xác lập được hai dạng tế bào:
- Dạng tế bào nhân sơ (Procaryota) có tổ chức còn nguyên thuỷ, chưa có màng nhân.
- Dạng tế bào có nhân chính thức (Eucaryota).

a. Tế bào nhân sơ (Procaryote)
Thuộc loại tế bào nhân nguyên thuỷ có vi khuẩn (bacteria) và vi khuẩn lam (cyamobactena). Tế bào của chúng có kích thước từ 0,5 - 3μm, thiếu màng nhân, thiếu các bào quan chính thức như: lục lạp, thể lyzosom, phức hệ Golgi... Ở nhóm sinh vật này, thông tin di truyền được tích trong nhiễm sắc thể gồm mạch xoắn kép ADN dạng vòng, nhiễm sắc thể này không chứa các prôtêin  kiềm, thiếu bộ máy phân bào và hạch nhân.  Ví dụ: tế bào vi khuẩn escherichia coli (hình 4.2).

Vách tế bào
Vách tế bào bao phía ngoài màng sinh chất tạo nên khung cứng vững chắc cho tế bào; có nhiệm vụ bảo vệ sự tác động cơ học, giữ và cố định hình dạng của tế bào, quan trọng hơn cả là chống chịu các tác nhân bất lợi, nhất là áp suất thẩm thấu của môi trường bên ngoài. Độ vững chắc của vách tế bào có được là nhờ các tính chất của peptidoglucan (còn gọi là murein) chỉ có ở procaryote. Peptidoglucan được cấu tạo từ hai loại đường gắn với một peptid ngắn gồm hai acid amin, chỉ có ở vách tế bào vi
khuẩn. Các đường và các peptid kết nối với nhau thành một đại phân tử bao bọc toàn bộ màng tế bào.

Do phản  ứng nhuộm màu violet mà người ta phân biệt  được hai loại vi khuẩn:
Gram dương hấp thụ và giữ lại màu và Gram âm không nhuộm màu.
Vách tế bào của các vi khuẩn Gram dương như  streptococus  rất dày, gồm peptidoglucan.
Vách của tế bào Gram âm như  E.coli gồm 3 lớp: màng tế bào trong cùng, peptidoglucan và lớp dày ngoài cùng gồm lipoprotein và liposaccharide tạo phức hợp lipopolysaccharide. Dưới vách tế bào là màng sinh chất bao bọc tế bào chất.

Mesosome là cấu trúc do màng tế bào xếp thành nhiều nếp nhăn, lõm sâu vào khối tế bào chất. Có thể đây là nơi gắn ADN vào màng.
Trong nguyên sinh chất có vùng tương tự nhân gọi là nucleotide. Bộ gen chứa một phân tử ADN lớn, vòng tròn, trơn (nghĩa là không gắn thêm protein). Sợi ADN của tế bào procaryota cũng mang bộ gen xếp theo đường thẳng, các gen này xác định các đặc tính di truyền của tế bào và các hoạt tính thông thường nên cũng  được gọi là nhiễm sắc thể.
Ngoài ra, tế bào procaryote còn có thể có các phân tử ADN nhỏ độc lập gọi là plasmid.
plasmid thường cũng có dạng vòng tròn.
Các ribosome nằm rải rác trong tế bào chất, chúng sẽ gắn lên mARN để tổng hợp protein.
Phần lớn vi khuẩn quang hợp chứa chlorophyll gắn với màng hay các phiến mỏng (tấm).
Một số vi khuẩn có các cấu trúc lông nhỏ gọi là tiêm mao (flagella) dùng để bơi.
Tế bào procaryota phân bố khắp nơi trên quả đất. Chúng sinh trưởng rất nhanh, chu kỳ một thế hệ ngắn, đa dạng về sinh hoá và rất mềm dẻo về di truyền.

b. Tế bào nhân thực (eucaryota)
Tế bào nhân thực

Các chất hữu cơ trong tế bào


1. Gluxit
a. Monosaccharide (đường đơn)
Từ các polyalcol có từ 3C đến 7C bị khử hyđro sẽ tạo ra các phân tử đường đơn tương ứng. Tuỳ theo vị trí khử H2 sẽ tạo ra 2 dạng đường:
- Nếu khử H2 tại C1 sẽ cho đường dạng aldose.
- Nếu khử H2 tại C2 sẽ cho đường dạng catose.
Trong nguyên tử đường đơn có chứa các nguyên tử C bất đối nên có các dạng đồng phân lập thể. Số lượng đồng phân lập thể được tính bằng công thức A = 2n . Trong đó: A là số đồng phân, n là số lượng nguyên tử C bất đối có trong phân tử.
Người ta qui định lấy vị trí nhóm OH của nguyên tử C bất đối ở xa nhóm định chức nhất để phân thành 2 nhóm đồng phân:
- Nếu tại C bất đối đó nhóm OH quay phía phải thì phân tử đó thuộc đồng phân D.
- Nếu tại C bất đối đó nhóm OH quay phía trái thì phân tử đó thuộc đồng phân L.
Đa số các phân tử  đường có 5C trở lên ở trong dung dịch đều có cấu trúc dạng vòng. Có 2 loại vòng: vòng 5 cạnh và vòng 6 cạnh. Khi hình thành cấu trúc dạng vòng làm xuất hiện thêm một nguyên tử C bất đối mới sẽ xuất hiện dạng đồng phân mới. Nhóm OH tạo ra này gọi là nhóm OH - glucozid. Nếu nhóm OH - glucozid quay lên trên thì có dạng đồng phân β, nếu nhóm OH - glucozid quay xuống dưới thì tạo ra dạng đồng phân α.
Trong tế bào có nhiều loại monosaccharide khác nhau, trong đó có một số loại khá phổ biến:
- Triose: aldehyl - glyceric, dioxiaceton.
- Tetraose: erytrose...
- Pentose: ribose, ribulose, xilulose ...
- Cetose: cedoheptulose.

b. Disaccharide
Disaccharide là đường đôi do 2 đơn vị monosaccharide liên kết với nhau tạo thành. Liên kết giữa 2 monosaccharide là liên kết glucozid. Có nhiều loại disaccharide tồn tại trong tế bào. Trong đó, phổ biến nhất là maltose, saccharose, lactore.
- Maltose là loại đường đôi do 2 phân tử α.D.glucose liên kết với nhau bằng liên kết (1 - 4) glucozid. 

Maltose
Đường Maltose

  








Maltose là thành phần trung gian cấu trúc nên tinh bột và cũng là sản phẩm phân huỷ tinh bột hay glycogen không hoàn toàn.

Các nguyên tố cấu tạo và các liên kết hóa học trong tế bào


1. Thành phần nguyên tố của tế bào
Mọi cơ thể sống từ đơn giản đến phức tạp đều được cấu tạo từ tế bào. Tế bào được cấu tạo nên từ các chất hóa học. Thành phần hoá học trong tế bào rất phức tạp, đa dạng.
Trong tế bào chứa nhiều nguyên tố khác nhau với hàm lượng rất khác nhau. Trong hơn 100 nguyên tố hóa học có trong tự nhiên, trong tế bào có mặt hơn 70 nguyên tố khác nhau.
Trong các nguyên tố có mặt trong tế bào, 16 nguyên tố (C, H, O, N, S, P, K, Mg, Ca, Fe, Ca, Cl, Na, Mn, Zn, I) là những nguyên tố có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên các thành phần của tế bào, thực hiện các chức năng sống của tế bào.
Sáu nguyên tố C, H, O, N, S, P được gọi là các nguyên tố phát sinh sinh vật vì vai trò quan trọng của chúng. Các nguyên tố này chiếm trên 97% khối lượng tế bào. Từ 6 nguyên tố này, cấu tạo nên tất cả các hợp chất hữu cơ của tế bào nên có vai trò quyết định sự tồn tại của sự sống.
Ngoài 16 nguyên tố chủ yếu trên, trong tế bào còn có nhiều nguyên tố khác với hàm lượng và vai trò khác nhau. Trong tế bào của các nhóm sinh vật khác nhau, hàm lượng các nguyên tố cũng không giống nhau. Hàm lượng các nguyên tố trong tế bào còn thay đổi tuỳ thuộc điều kiện môi trường (thực vật, VSV), chế độ dinh dưỡng (động vật).

2. Các liên kết hoá học trong tế bào
liên kết hóa học

Giáo trình kĩ thuật di truyền


Nội dung giáo trình gồm: 
1. Thu hồi naxit nucleic (các phương pháp tách chiết axit nucleic)
- Phương pháp tách chiết ADN và ARN
- Phương pháp li tâm 
- Phương pháp sắc kí
2. Phân tích định tính và định lượng axit nucleic
- Điện di (quan gel agarozo, poliacrilamide)
- Phương pháp quang phổ kế: đo mật độ quang OD
3. Sử dụng các enzyme thông dụng trong sinh học phân tử

Tổng hợp lí thuyết và câu hỏi trắc nghiệm di truyền quần thể


Phần 1: CÁC CÔNG THỨC CẦN NHỚ
I. QUẦN THỂ NỘI PHỐI (Tự thụ phấn, tự phối)
Xét 1 gen gồm 2 alen A và a. Giả sử QT ban đầu có 100%Aa với n: số thế hệ tự phối.
Tỉ lệ KG dị hợp qua n lần tự phối = (1/2)n

Sinh học 12: Bài tập tắc nghiệm ADN


1. Gen dài 3488,4A0 chứa bao nhiêu Nu?
A.1026 B.2052  C.3078 D.1539
2. Có bao nhiêu cặp nucleotic chứa  trong 1 gen không phân mảnh dài 0,3264 Mm?A.1920    B.319   C.960   D. 3840
3. Gen có khối lượng 783x103đvC chứa bao nhiêu nucleotic?
A. 7830      B. 7118     C. 1305      D. 2610
4. Một gen có 102 chu kì xoắn, gen này có bao nhiêu nucleotic?
A. 2040   B. 1020     C. 3060       D. 3468

Sinh học 12: Một số bài tập phần gen - ADN


Dạng bài tập ADN: cho gen đột biến, tìm số liên kết hidro của gen trước hoặc sau đột biến. Dạng này chỉ cần áp dụng các công thức tính số nu, tính H, tính L… (1nm = 10-9m; 1Å = 10-1nm = 10-8m…)
N = 2L/3.4
H = 2A + 3G

Tại sao ADN thỏa mãn các yêu cầu là vật chất di truyền

ADN thỏa mãn các yêu cầu đối với vật chất di truyền vì:

1. Chứa và truyền đạt thông tin di truyền
Đòi hỏi trước tiên đối với vật chất di truyền là có khả năng chứa thông tin di truyền. Phân tử ADN có chiều ngang giới hạn, nhưng chiều dài thì không hạn chế. Trình tự các sắp xếp của các nucleotit sắp xếp theo chiều dài quy định thông tin di truyền. Tuy ADN chỉ có 4 loại nuclêôtit nhưng số trình tự khác nhau là một con số khổng lồ.

Sự biến tính - hồi tính và lai phân tử axit nuclêic

a, Biến tính (denaturation) và hồi tính (renaturation)
      Hai mạch đơn ADN liên kết với nhau nhờ các liên kết hidro. Nếu tác động nào đó làm đứt các liên kết hidro này sẽ làm hai mạch đơn tách rời nhau. Khi đun nóng phân tử ADN vượt quá nhiệt độ sinh lí (thường khoảng 80 - 95oC) các liên kết hdro  giữa hai mạch bị đứt và chúng tách rời nhau. Đó là hiện tượng biến tính của ADN.

So sánh quá trình phiên mã của nhân sơ và nhân thực

Sự phiên mã của tế bào nhân thực có những điểm giống và khác nhau
phiên mã, polixom

Đề thi học sinh giỏi Môn Sinh học

Đề thi học sinh giỏi môn sinh học tỉnh Đồng Tháp các năm 2010 - 2011 - 2012
2010
2011
2012
Thi thử 1
Thi  thử 2
Lưu ý: Nhấn vào link chờ 5 giây và nhấn skip ad
DOWNLOAD:

Bào tử vi khuẩn (spore, endospore)


Một số vi khuẩn vào cuối thời kì sinh trưởng phát triển sẽ sinh ra bên trong tế bào một thể nghĩ có dạng hình cầu hay bầu dục gọi là bào tử hay nội bào tử. Vì mỗi tế bào chỉ cho 1 bào tử nên đây không phải là hình thức sinh sản.

Hình thái và cấu trúc của tế bào vi khuẩn


1. Hình thái, kích thước, nhuộm màu
Vi khuẩn có nhiều hình thái, kích thước và cách sắp xếp khác nhau. Đường kính vi khuẩn thay đổi trong khoảng 0,2 - 2µm, chiều dài cơ thể khoảng 2 - 8µm. Những dạng chủ yếu của vi khuẩn là hình cầu, hình que, hình phẩy, hình xoắn, hình sợi,…
Về hình thể, người ta chia vi khuẩn làm 3 nhóm chính:

Lịch sử phát triển của ngành vi sinh vật học


Từ cổ xưa, mặc dù chưa nhận thức được sự tồn tại của vi sinh vật, nhưng loài người đã biết khá nhiều tác dụng do vi sinh vật gây nên. Trong sản xuất và đời sống, con người đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về các biện pháp để sử dụng hiệu quả các vi sinh vật có ích và phòng tránh các vi sinh vật có hại.

Sinh học 12: Di truyền học - Tương tác giữa các gen alen


Ta vẫn nói alen A là trội hoàn toàn so với gen a hay kiểu hình hoa đổ trội hoàn toàn so với kiểu hình hoa trắng. Thực ra, mối quan hệ trội lặn chỉ thẻ hiện ở sự biểu hiện ra kiểu hình của các kiểu gen còn bẩn thân các gen (chính xác hơn là các alen ) không có mối quan heẹ trực tiếp gì với nhau. Vì các alen trội hay lặn của một gen chỉ là những đoạn trình tự nuclêôtit trên phân ADN khác nhau về 1 hoặc  vài cặp nucêôtit. Chúng cùng tồn tại trong nhân tế bào và không ảnh hưởng gì đến nhau. Tiu nhiên, sản phẩm của các alen trội và alen lặn là các enzim hoặc prôtein lại tương tác với nhau tạo nên một kiểu hình chung. Vi vậy, thực chất của tương tác gen là sự tương tác giữa các sản phẩm của gen trong tế bào và trong cơ thê. Ví dụ, kiểu hình hạt đậu trơn được tạo thành là do một alen quy định enzim xúc tác cho quá trình biến đổi các phân tử đường đơn thành tinh bột nên khi chín hạt khô không bị mất nước, do vậy vậy hạt vẫn nhẵn trơn mà không bị nhăn nheo. Trong khi đó, nếu alen này bị đột biến làm cho cây đậu khôgn tổng hợp được enzim chuyển hóa đường thành tinh bột thì hạt của cây sẽ tích toàn đường. Kết quả là khi chínm hạt bị mất nước nhiều nên vỏ trở nên nhăn nheo. Cây dị hợp tử về gen này, ví dụ Aa chỉ cần có một alen A cũng tổng hợp được lượng enzim đủ để chuỷen hoát tất cả đường thành tinh bột nên hạt nhẵn trơn. Trong trường hợp này ta nói kiểu hình hạt trơn là trội hoàn toàn so với hạt nhăn.
Có lẽ Mendel đã may mắn khi đã chọn được các tính trạng chỉ do 1 gen quy định và các alen của cùng 1 gen lại tương tác với nhau theo kiểu trội lặn hoàn toàn. Mối quan hệ này thực tế rất hiếm gặp không chỉ ở đậu Hà Lan mà còn rất hiếm gặp ở các loài sinh vật khác.
2. Hiện tượng đồng trội
Sản phẩm của hai alen thuộc cùng một gen có thể không có sự tương tác gì với nhau mà sản phẩm của từng alen thuộc cùng một gen được biểu hiện thành kiểu hình riêng khi chúng tồn tại ở trạng thái dị hợp tử. Hiện tượng này được gọi là đồng trội. Ví dụ, trong hệ thống nhóm máu ABO ở người, locut gen I có alen IA quy định đặc tính kháng nguyên kiểu A trên bề mặt hồng cầu còn alen IB quy đinh đặc tính kháng nguyên kiểu B, nên người có kiểu gen IAIA có nhóm máu A, người có kiểu gen IBIB có nhóm mau B, nên người có kiểu gen IAIA có nhóm máu A, người có kiểu gen IBIB có nhóm máu B và dị hợp tử IAIB có cả nhóm máu A lẫn B (nhóm máu AB). Người có kiểu gen IOIO sẽ cho nhóm máu O vì không có đặc tính kháng nguyên A và B.
Hiện tượng trội không hoàn toàn 
Đối với một số sản phẩm của các alen thuộc cùng một gen lại tương tác với nhau theo kiểu trội không hoàn toàn. Trong trường hợp đó, cá thể có kiểu gen dị hợp tử Aa có kiểu hình trung gian giữa AA và aa. Ví dụ AA tạo ra được  một lượng sản phẩm là sắc tố đỏ cao gấp hai lần so với cây dị hợp tử, vì vậy cây cho kiểu hình hoa đỏ. Trong khi đó, cây dị hợp tử Aa, chỉ tổng hợp được một nửa lượng sắc tố đỏ so với bình thường nên cây cho kiểu hình hoa hồng. Còn cây có kiểu gen đồng hợp lặn aa, do không tổng hợp được sắc tố nên hoa có màu trắng.
Nguồn: thuviensinhhoc.com
DOWNLOAD:

Sinh học 12: Những lưu ý khi làm bài tập di truyền người


Những điểm cơ bản để giải bài tập di truyền người, công cụ cho các bạn học sinh 12 đang chuẩn bị cho các kì thi sắp tới.
1. Bài tập thường đề cập đến các tính trạng do gen trên NST thường và liên kết với giới tính.
- Với tính trạng nằm trên NST thường thì áp dụng các quy luật trội lặn của Menđen ... để xác định tính trạng trội, lặn và chứng minh kiểu gen của những người trong dòng họ.
+ Tức là ở đây bạn xét riêng từng tính trạng để xác định gen trội lặn. 
- Với tính trạng liên kết trên NST giới tính thì lập luận dựa vào sự di truyền chéo (gen nằm trên NST X), trong đó có con gái nhận NST X từ bố mẹ, con trai nhận NST X từ mẹ còn Y từ bố. Từ đó suy ra kiểu gen của bố mẹ.
- Trường hợp gen nằm trên NST giới tính Y thì di truyền thẳng (giới có NST giới tính XY sẽ truyền lại cho giới có NST giới tính XY).
2. Dùng sơ đồ phả hệ để xác định các điều kiện đã cho và những điều kiện cần xác định (cụ thể gen nằm trên NST nào ? NST thường hay NST giới tính ? Bệnh hay tật do gen trội hay lặn quy định ?
Từ đó xác định được kiểu gen của các thành viên trong phả hệ và khả năng xuất hiện bệnh (thường hỏi là xác suất xuất hiện của bệnh hay tật là bao nhiêu phần trăm ở thế hệ con).
Thuviensinhhoc.com

DOWNLOAD: